Đào tạo bác sĩ nội trú đang đứng trước một nghịch lý: Nhu cầu về bác sĩ có trình độ chuyên môn sâu ngày càng lớn, trong khi cơ chế đào tạo, bảo đảm chất lượng và sử dụng nguồn nhân lực này vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Tháo gỡ những điểm nghẽn trong đào tạo bác sĩ nội trú vì thế không chỉ là câu chuyện của các trường y, mà còn liên quan trực tiếp đến chất lượng khám, chữa bệnh và khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Từ chuẩn đào tạo đến điều kiện thực hành
Một trong những vấn đề được bàn luận thời gian qua là ai quản lý, chuẩn hóa và chịu trách nhiệm cuối cùng đối với đào tạo bác sĩ nội trú? Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, vấn đề quản lý đào tạo bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa được đặt ra trong quá trình thảo luận, hoàn thiện Luật Giáo dục đại học (sửa đổi). Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, xác định chương trình đào tạo chuyên sâu sau đại học lĩnh vực sức khỏe cấp bằng bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa do Bộ trưởng Y tế hướng dẫn, tổ chức thực hiện và quản lý. Đây là bước tiến quan trọng trong việc xác lập rõ hơn trách nhiệm quản lý đối với loại hình đào tạo có yêu cầu đặc thù, liên quan trực tiếp đến an toàn người bệnh.
Tuy nhiên, hoàn thiện khung pháp lý mới chỉ là bước đầu. Để bảo đảm chất lượng giữa các cơ sở đào tạo, cần có chuẩn năng lực thống nhất, chương trình theo từng chuyên khoa và tiêu chuẩn cụ thể đối với bệnh viện thực hành. Nếu thiếu những yêu cầu chung, cùng một văn bằng nhưng năng lực thực tế của người tốt nghiệp có thể khác nhau tùy thuộc môi trường đào tạo và mức độ tham gia thực hành.
Ngày 5/8/2026, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 2496/QĐ-BYT phê duyệt khung “Chuẩn năng lực nghề nghiệp bác sĩ chuyên khoa”. Đây là căn cứ quan trọng để từng bước chuẩn hóa yêu cầu năng lực nghề nghiệp, hướng tới gắn đào tạo với thực hành và đánh giá chuyên môn. Tuy nhiên, để khung chuẩn phát huy hiệu quả, cần tiếp tục cụ thể hóa thành yêu cầu phù hợp với từng chuyên khoa, chương trình đào tạo và điều kiện thực hành của các cơ sở.
Tại tọa đàm “Đào tạo bác sĩ nội trú trong khối ngành sức khỏe”, tổ chức ngày 25/4/2026 tại Cần Thơ do Trường đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp Trường đại học Y Dược Cần Thơ tổ chức, các đại biểu tập trung thảo luận về chuẩn năng lực, chương trình đào tạo, tiêu chuẩn bệnh viện thực hành, tuyển sinh, đánh giá đầu ra và cơ chế tài chính. Những nội dung này cho thấy yêu cầu đổi mới không chỉ nằm ở chương trình học, mà còn ở cách tổ chức và kiểm soát chất lượng đào tạo.
TS Nguyễn Văn Quân, Phó Cục trưởng Khoa học, Công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế) cho biết, việc xây dựng quy định mới tập trung vào hai trụ cột là chuẩn chương trình đào tạo theo từng chuyên khoa và tiêu chuẩn BV thực hành theo năng lực tiếp nhận của từng cơ sở. Định hướng này đặt ra yêu cầu chuyển từ quản lý chủ yếu theo thời gian đào tạo sang đánh giá dựa trên năng lực người học đạt được.
Theo đó, chương trình cần xác định rõ kiến thức, kỹ năng và năng lực chuyên môn mà bác sĩ nội trú phải đạt ở từng giai đoạn. Đối với BV thực hành, yêu cầu không chỉ nằm ở quy mô giường bệnh hay trang thiết bị, mà còn ở số lượng, cơ cấu bệnh nhân, đội ngũ hướng dẫn, khả năng tổ chức hoạt động chuyên môn và điều kiện giám sát người học. Một BV có trang thiết bị hiện đại nhưng thiếu đội ngũ hướng dẫn hoặc không bảo đảm cơ hội thực hành phù hợp cũng khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu đào tạo chuyên sâu.
GS, TS, TTND Lê Ngọc Thành, Hiệu trưởng Trường đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, cả nước có 34 trường đại học y dược nhưng mới có 13 cơ sở đủ điều kiện đào tạo bác sĩ nội trú. Theo ông, chất lượng đầu ra chưa đồng đều, thiếu chuẩn chung thống nhất và cơ chế phân bổ nhân lực sau đào tạo gắn với nhu cầu của hệ thống y tế. Từ thực tế này, GS, TS, TTND Lê Ngọc Thành đề xuất nghiên cứu xây dựng kỳ thi quốc gia đánh giá, xếp hạng năng lực, làm căn cứ để người học lựa chọn chuyên khoa và BV thực hành, đồng thời góp phần phân bổ nguồn nhân lực chất lượng cao hợp lý hơn.
Những điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ
Bên cạnh chuẩn hóa, một yêu cầu cấp thiết là gắn quy mô và cơ cấu đào tạo với nhu cầu nhân lực của hệ thống y tế. Theo số liệu được công bố tại tọa đàm tháng 4/2026, đến hết năm 2025, cả nước đã đào tạo được 8.441 bác sĩ nội trú; dự kiến năm 2026 có thêm 1.276 người tốt nghiệp.
Thực tế, nhu cầu bác sĩ nội trú không giống nhau giữa các tuyến BV, địa phương và chuyên khoa. BV tuyến cuối cần đội ngũ có năng lực xử trí bệnh phức tạp, thực hiện kỹ thuật chuyên sâu, nghiên cứu khoa học và tham gia đào tạo. BV tỉnh, BV khu vực cần bác sĩ chuyên khoa đủ năng lực giải quyết phần lớn nhu cầu khám, chữa bệnh tại địa phương, đồng thời phát hiện và chuyển tuyến kịp thời những trường hợp vượt khả năng chuyên môn.
Vì vậy, mở rộng chỉ tiêu đào tạo mà thiếu dự báo dài hạn có thể dẫn đến tình trạng nơi thừa, nơi thiếu. Một số chuyên khoa thu hút đông người học, trong khi những lĩnh vực khó tuyển vẫn cần được quan tâm về cơ cấu nhân lực.
Để khắc phục, cần hình thành cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, BV thực hành và đơn vị sử dụng nhân lực. Các BV, địa phương tham gia xác định nhu cầu theo chuyên khoa và khả năng tiếp nhận sau tốt nghiệp; cơ sở đào tạo căn cứ nhu cầu để xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức đào tạo và bảo đảm chuẩn đầu ra. Cơ chế đặt hàng đào tạo cần được nghiên cứu theo hướng minh bạch, có dự báo dài hạn, gắn với nguồn kinh phí và trách nhiệm sử dụng nhân lực.
Đặt hàng không nên chỉ dừng ở việc xác định số lượng bác sĩ cần đào tạo. Với những chuyên khoa khó tuyển hoặc địa bàn khó thu hút nhân lực, cần tính đến điều kiện làm việc, cơ hội phát triển chuyên môn, chính sách hỗ trợ và cam kết bố trí công tác sau tốt nghiệp. Nếu yêu cầu bác sĩ trở về địa phương mà không bảo đảm môi trường làm việc, trang thiết bị và cơ hội nâng cao năng lực, việc giữ chân nhân lực vẫn là thách thức.
Một điểm nghẽn khác là cơ chế tài chính và chế độ đối với bác sĩ nội trú. Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo bác sĩ, người học tiếp tục dành ba năm đào tạo chuyên sâu với cường độ cao trong BV. Trong thời gian này, họ vừa học tập, vừa thực hành và tham gia chăm sóc người bệnh dưới sự hướng dẫn, giám sát. Vì vậy, cần làm rõ trách nhiệm bảo đảm thu nhập, bảo hiểm xã hội, chế độ trực và các quyền lợi liên quan, phù hợp với tính chất chương trình và công việc được giao.
PGS, TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, kiến nghị cần có cơ chế trả lương và đóng bảo hiểm xã hội cho bác sĩ nội trú ngay từ khi bắt đầu đào tạo. Theo ông, đây là những người đã tốt nghiệp bác sĩ và thật sự tham gia chăm sóc người bệnh.
Để giải quyết vấn đề, cần phân định rõ trách nhiệm của cơ sở đào tạo, BV thực hành và cơ quan quản lý về kinh phí đào tạo, hỗ trợ người học và tổ chức thực hành. Cơ chế chi trả phải tương xứng với công việc được giao; đồng thời bảo đảm người học được hướng dẫn, giám sát đúng quy định, không bị đặt vào vị trí thay thế nhân lực chính thức khi chưa đáp ứng yêu cầu năng lực. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, chế độ trực, thời gian nghỉ ngơi, điều kiện học tập và trách nhiệm chuyên môn cần được xem xét đồng bộ.
Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 9/9/2025 xác định yêu cầu phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng, đồng thời có chính sách ưu đãi, đãi ngộ trong suốt quá trình từ đào tạo, tuyển dụng, sử dụng đến phát huy năng lực đội ngũ cán bộ y tế; phát triển y tế chuyên sâu và tăng cường năng lực các cơ sở y tế đầu ngành để đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Trước hết, cần sớm hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học đối với đào tạo chuyên sâu lĩnh vực sức khỏe; thống nhất chuẩn năng lực, chuẩn chương trình và tiêu chuẩn cơ sở thực hành. Cùng với đó, xây dựng cơ chế dự báo nhu cầu nhân lực theo chuyên khoa, vùng miền và từng tuyến BV để làm căn cứ xác định chỉ tiêu đào tạo.
Cùng với cơ chế đặt hàng đào tạo, cần xác định rõ trách nhiệm của BV và địa phương trong việc đặt nhu cầu, cơ sở đào tạo trong bảo đảm chất lượng, cũng như cơ chế hỗ trợ người học và định hướng sử dụng sau tốt nghiệp.
Quan trọng hơn, cần nhìn nhân lực y tế như một nguồn lực chiến lược, không chỉ là chi phí đào tạo. Với bác sĩ nội trú, điều đó càng rõ bởi để có một bác sĩ chuyên khoa, xã hội đã đầu tư sáu năm đào tạo bác sĩ và thêm ba năm đào tạo chuyên sâu.
Khi nhu cầu về bác sĩ chất lượng cao ngày càng lớn, điều cần làm không chỉ là mở rộng số lượng bác sĩ nội trú, mà phải xây dựng hệ thống thống nhất từ dự báo nhu cầu, tuyển chọn, đào tạo, thực hành, đánh giá năng lực đến tuyển dụng và sử dụng. Đây là điều kiện để nguồn nhân lực bác sĩ nội trú thật sự đáp ứng nhu cầu phát triển của hệ thống y tế.
Bài toán nguồn nhân lực y tế chất lượng cao (kỳ 1)
Bài toán nguồn nhân lực y tế chất lượng cao (kỳ 2)
Bài toán nguồn nhân lực y tế chất lượng cao (kỳ 3)
MINH TÂM