"Bệnh tim cấu trúc đang trở thành thách thức y tế đáng chú ý khi dân số ngày càng già hóa", GS.TS. Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Phân hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam, nói tại Hội nghị khoa học Tim mạch Can thiệp toàn quốc lần thứ 12, diễn ra hôm 7-8/11. Hội nghị quy tụ gần 1.500 đại biểu trong nước và quốc tế, cập nhật xu hướng phát triển can thiệp tim cấu trúc, từ thay van động mạch chủ, sửa van hai lá, van ba lá đến lựa chọn bệnh nhân và quản lý sau can thiệp.
Theo GS Hùng, các tổn thương như hẹp, hở van tim, bất thường vách ngăn và cấu trúc bên trong tim có thể tiến triển âm thầm, gây suy giảm chức năng tim, suy tim. Có thể hình dung trái tim như một chiếc máy bơm với các buồng tim và hệ thống van đóng mở để điều hướng dòng máu. Khi van bị hẹp, máu khó lưu thông. Khi van bị hở, máu trào ngược, khiến tim phải hoạt động nhiều hơn. Theo thời gian, tình trạng này có thể dẫn đến giãn tim, suy tim và nhiều biến chứng tim mạch.
Bệnh van tim do thoái hóa, vôi hóa thường gặp hơn ở người cao tuổi. Bộ Y tế dự báo, đến năm 2030 Việt Nam có khoảng 18 triệu người từ 60 tuổi trở lên, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024. Đây là nhóm dân số có nguy cơ cao mắc các bệnh lý tim cấu trúc, đồng thời thường có nhiều bệnh nền khiến việc điều trị phức tạp.
Tại Việt Nam, hiện chưa có điều tra dịch tễ chính thức trên quy mô toàn quốc. Tuy nhiên, theo GS Hùng, các ước tính chuyên ngành (không phải số liệu điều tra chính thức) cho thấy gần 500.000 người trên 60 tuổi mắc bệnh van động mạch chủ ở các mức độ khác nhau, trong đó khoảng 100.000-200.000 người có thể bị hẹp van mức độ vừa đến nặng.
GS.TS. Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Phân hội Tim mạch học Can thiệp Việt Nam, chia sẻ tại hội nghị. Ảnh: Thu Phương
Trước đây, phẫu thuật mở là phương pháp điều trị chủ yếu đối với các bệnh van tim nặng. Tuy nhiên, với người cao tuổi, nhiều bệnh nền hoặc nguy cơ phẫu thuật cao, việc điều trị gặp không ít thách thức. Sự phát triển của tim mạch can thiệp mở ra hướng tiếp cận ít xâm lấn hơn. Thay vì mở ngực, bác sĩ đưa dụng cụ vào tim qua hệ thống ống thông từ mạch máu để sửa chữa hoặc thay thế cấu trúc bị tổn thương.
Tiêu biểu là kỹ thuật thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVI/TAVR), được thực hiện lần đầu trên người năm 2002 bởi bác sĩ Alain Cribier và cộng sự. Từ phương pháp dành cho bệnh nhân không thể phẫu thuật, TAVI ngày càng mở rộng chỉ định. Kỹ thuật giúp giảm xâm lấn, hạn chế phẫu thuật mở ngực và rút ngắn thời gian hồi phục. Theo công bố năm 2025, gần 3 triệu bệnh nhân tại hơn 80 quốc gia đã được thực hiện TAVI, với khoảng 300.000 ca mỗi năm trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, can thiệp tim cấu trúc phát triển từ nền tảng kinh nghiệm nong van hai lá bằng bóng và điều trị bệnh tim bẩm sinh qua ống thông. Sau khoảng 30 năm, cả nước hiện có hơn 140 trung tâm tim mạch can thiệp, thực hiện khoảng 70.000 ca can thiệp động mạch vành mỗi năm.
Riêng lĩnh vực tim cấu trúc, khoảng 30 trung tâm triển khai các kỹ thuật ở những mức độ khác nhau, trong đó khoảng 20 trung tâm thực hiện TAVI, với gần 250 ca mỗi năm. Một số bệnh viện đã làm chủ kỹ thuật sửa van hai lá qua ống thông, thay van động mạch phổi và bít tiểu nhĩ trái.
Những tiến bộ này giúp người bệnh có thêm cơ hội tiếp cận kỹ thuật điều trị hiện đại trong nước. Tuy nhiên, phát triển lĩnh vực tim cấu trúc vẫn đối mặt với nhiều thách thức như phát hiện bệnh muộn, chi phí thiết bị cao, năng lực chuyên môn chưa đồng đều giữa các cơ sở và yêu cầu theo dõi kết quả điều trị lâu dài. Vì vậy, đòi hỏi ngành y cần xây dựng hệ thống chuyên nghiệp từ nhân lực, trang thiết bị, an toàn thủ thuật đến phối hợp hồi sức, phẫu thuật, đăng ký ca bệnh và cải tiến chất lượng.
Bệnh nhân đo huyết áp. Ảnh: Quỳnh Trần
Lê Nga