Đất ghi chữ T trong sổ năm 1980, người dân có được xác định lại diện tích đất ở?
Nguồn ảnh: VietnamNet
Có 1.200m2 đất được ghi chữ “T” (thổ cư) trong sổ đăng ký ruộng đất năm 1980, sau đó được cấp sổ đỏ năm 1998. Người dân muốn xác định diện tích đất ở nhưng chưa được xã giải quyết. Bộ NN&MT hướng dẫn quy định áp dụng.
Theo phản ánh, người bố của công dân đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất năm 1980 đối với thửa đất số 283, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.200m2, loại đất được ghi bằng chữ “T” (thổ cư).
Năm 1993, người bố qua đời. Đến năm 1998, Nhà nước thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Do bố đã mất, người mẹ đứng tên trên giấy chứng nhận.
Năm 2011, người mẹ làm thủ tục để người con đứng tên quyền sử dụng đất. Đến nay, công dân vẫn là người đứng tên sổ đỏ.
Từ những thông tin trên, công dân đặt câu hỏi liệu hiện nay có thể làm đơn đề nghị xác nhận lại diện tích đất ở đối với thửa đất này hay không?
Theo nội dung phản ánh, công dân đã đến bộ phận một cửa của xã để đề nghị xác nhận lại diện tích đất ở. Sau thời gian tra cứu hồ sơ, bộ phận một cửa trả lại hồ sơ và thông báo bằng lời nói rằng người dân cần chờ hướng dẫn của cấp trên. Công dân cho biết không nhận được thông báo bằng văn bản về lý do trả hồ sơ.
Trong khi đó, tin nhắn gửi đến số điện thoại được ghi trong hồ sơ tiếp nhận thể hiện nội dung trả hồ sơ theo yêu cầu.
Công dân thắc mắc, bộ phận một cửa của xã trả hồ sơ như vậy có đúng quy định hay không?
Trên sổ đỏ đã cấp chưa xác định cụ thể diện tích đất ở mà thể hiện chung đất ở với đất khác, việc xác định diện tích đất ở thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026. Ảnh minh họa: Hồng Khanh
Trả lời phản ánh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) cho biết đây là vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương, cần căn cứ hồ sơ, tài liệu và quá trình quản lý, sử dụng đất.
Do chưa có đầy đủ thông tin về giấy chứng nhận và hồ sơ pháp lý của thửa đất, Bộ không có cơ sở trả lời cụ thể, nhưng cung cấp các nguyên tắc để người dân đối chiếu.
Theo Bộ NN&MT, nếu thửa đất được xác định là đất ở có vườn, ao hoặc đất thổ cư khi cấp giấy chứng nhận lần đầu vào năm 1998, đồng thời có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6 và 7 Điều 137 Luật Đất đai năm 2024, việc xác định lại diện tích đất ở được thực hiện theo điểm a khoản 6 Điều 141 của luật này.
Bộ lưu ý, thông tin công dân phản ánh mới thể hiện việc thửa đất có diện tích 1.200m2, được ghi loại đất chữ “T” trong sổ đăng ký ruộng đất năm 1980 và được cấp giấy chứng nhận lần đầu năm 1998. Do không có đầy đủ thông tin về loại đất, diện tích đất ở và những nội dung được ghi trên giấy chứng nhận đã cấp, Bộ không có cơ sở để trả lời cụ thể.
Cơ quan này cho biết, trường hợp giấy chứng nhận đã cấp chưa xác định cụ thể diện tích đất ở mà thể hiện chung đất ở với đất khác, như “thổ cư”, “thổ tập trung”, “làm nhà ở”, “đất ở + vườn”, “T”, “TV”, “TQ”, “TTT”, thì việc xác định diện tích đất ở được thực hiện theo khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
Bộ dẫn điểm a khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026, theo đó UBND cấp tỉnh căn cứ quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ, quá trình quản lý, sử dụng đất và điều kiện thực tế ở địa phương để quy định việc xác định diện tích đất ở.
UBND cấp tỉnh cũng có trách nhiệm quy định các trường hợp khác chưa xác định cụ thể diện tích đất ở trên giấy chứng nhận đã cấp để áp dụng quy định tại khoản này.
Bộ đề nghị người dân nghiên cứu các văn bản trên và liên hệ UBND cấp xã nơi có đất để được hướng dẫn, giải quyết việc xác định diện tích đất ở theo quy định.
Đối với nội dung công dân phản ánh về việc bộ phận một cửa của xã trả hồ sơ sau thời gian tra cứu nhưng không có thông báo bằng văn bản, Bộ đề nghị công dân phản ánh nội dung này đến UBND xã để được xem xét, trả lời và giải quyết theo thẩm quyền.
Một thửa đất rộng 1.200m2, từng được ghi bằng chữ “T” trong sổ đăng ký ruộng đất năm 1980, đang khiến người dân băn khoăn về diện tích đất ở được công nhận hiện nay. Thửa đất số 283, tờ bản đồ số 03, ban đầu đứng tên người bố của công dân, trong khi chữ “T” được hiểu là đất thổ cư theo cách ghi nhận thời điểm đó. Sau khi người bố qua đời năm 1993, người mẹ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp lần đầu năm 1998, rồi chuyển sang tên người con vào năm 2011.
Đến nay, người con vẫn là người đứng tên trên sổ đỏ, nhưng giấy chứng nhận chưa thể hiện rõ phần diện tích đất ở trong tổng diện tích thửa đất. Người dân vì vậy đã đến bộ phận một cửa của xã, đề nghị xác nhận lại diện tích đất ở dựa trên hồ sơ quản lý đất đai và quá trình sử dụng thực tế. Sau thời gian tra cứu, bộ phận này trả lại hồ sơ, thông báo bằng lời rằng người dân cần chờ hướng dẫn của cấp trên, nhưng không cung cấp văn bản nêu rõ lý do.
Theo phản ánh, tin nhắn gửi đến số điện thoại ghi trong hồ sơ tiếp nhận chỉ thể hiện nội dung trả hồ sơ theo yêu cầu, khiến công dân đặt câu hỏi về tính đúng quy định của quy trình giải quyết. Vấn đề được công dân gửi đến cơ quan chức năng, trong bối cảnh giấy chứng nhận đã cấp thể hiện chung đất ở với loại đất khác, chưa xác định con số cụ thể cho phần đất ở. VietnamNet dẫn nội dung trả lời của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết đây là trường hợp cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định, việc xem xét phải dựa trên giấy chứng nhận, hồ sơ pháp lý, tài liệu lưu trữ cùng quá trình quản lý và sử dụng thửa đất qua các thời kỳ. Do phản ánh chưa cung cấp đầy đủ thông tin về loại đất, diện tích đất ở và các nội dung ghi trên giấy chứng nhận, Bộ chưa có đủ cơ sở kết luận trực tiếp cho trường hợp này. Tuy vậy, cơ quan trung ương đã nêu những nguyên tắc để người dân đối chiếu, chuẩn bị hồ sơ và làm việc với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương.
Nếu thửa đất được xác định là đất ở có vườn, ao hoặc đất thổ cư khi cấp giấy chứng nhận lần đầu năm 1998, người sử dụng đất cần kiểm tra thêm giấy tờ thuộc các nhóm được quy định tại khoản 1, 2, 3, 5, 6 và 7 Điều 137 Luật Đất đai năm 2024. Khi đồng thời đáp ứng điều kiện liên quan, việc xác định lại diện tích đất ở được thực hiện theo điểm a khoản 6 Điều 141 của luật này. Riêng thông tin thửa đất rộng 1.200m2, ghi chữ “T” năm 1980 và được cấp giấy chứng nhận năm 1998 mới chỉ là dữ liệu ban đầu, chưa đủ để cơ quan trung ương đưa ra kết luận cụ thể.
Bộ cũng lưu ý, nhiều giấy chứng nhận cũ không tách riêng diện tích đất ở mà ghi chung với loại đất khác bằng các cách thể hiện như “thổ cư”, “thổ tập trung”, “làm nhà ở”, “đất ở + vườn”, “T”, “TV”, “TQ” hoặc “TTT”. Với những trường hợp như vậy, việc xác định diện tích đất ở được thực hiện theo khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026 của Chính phủ. Nghị định này quy định chi tiết, hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
Theo điểm a khoản 2 Điều 20 Nghị định số 49/2026, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ pháp luật đất đai qua từng thời kỳ, quá trình quản lý sử dụng đất và điều kiện thực tế tại địa phương để quy định cách xác định diện tích đất ở. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng thời phải quy định thêm những trường hợp giấy chứng nhận đã cấp chưa thể hiện cụ thể diện tích đất ở, nhằm áp dụng thống nhất quy định này. Vì vậy, chữ “T” trong hồ sơ năm 1980 có thể là căn cứ để đối chiếu, nhưng không tự động đồng nghĩa toàn bộ 1.200m2 hiện nay được xác định là đất ở.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị người dân nghiên cứu Luật Đất đai năm 2024, Nghị định số 49/2026 cùng quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất. Người dân nên liên hệ Ủy ban nhân dân cấp xã để được hướng dẫn, kiểm tra hồ sơ và giải quyết việc xác định diện tích đất ở theo thẩm quyền. Đối với việc trả hồ sơ không có thông báo bằng văn bản, công dân có thể phản ánh đến Ủy ban nhân dân xã để được xem xét, trả lời và xử lý theo quy định.