Kết thúc phiên 14/10, VN-Index giảm 14,55 điểm, xuống 1.704,87 điểm. Riêng bốn cổ phiếu VIC, VHM, VPL và VRE lấy đi hơn 12 điểm của chỉ số (phiên giảm thứ 6 liên tiếp). Khối lượng khớp lệnh phiên này thấp hơn 12,8% so bình quân 20 phiên. Sự hỗ trợ của một số cổ phiếu vốn hóa lớn giúp hạn chế mức giảm, nhưng chưa đủ tạo sức lan tỏa.
Tiền gửi cạnh tranh với cổ phiếu
Theo khảo sát đầu tháng 10 của PV, nhiều ngân hàng niêm yết lãi suất khoảng 7-7,8%/năm ở các kỳ hạn trung và dài hạn. Một số chương trình cộng thêm đưa mức hưởng lên hơn 9%/năm. Riêng Cake (mô hình ngân hàng số do VPBank quản lý) có chương trình đạt tương đương 9,6%/năm cho kỳ hạn 10-13 tháng.
Dù có khác biệt giữa ngân hàng và sản phẩm, mức sinh lời này tạo ra lựa chọn đáng cân nhắc đối với người đang giữ tiền. Khi cổ phiếu liên tục điều chỉnh, gửi tiết kiệm giúp xác định trước khoản lãi theo kỳ hạn, thay vì phải chấp nhận rủi ro biến động giá.
Chẳng hạn, với mức lãi suất giả định 8%/năm, khoản tiền gửi 1 tỷ đồng trong một năm mang lại 80 triệu đồng tiền lãi nếu giữ đến hạn. Để lựa chọn cổ phiếu, nhà đầu tư phải kỳ vọng lợi nhuận đủ hấp dẫn so với khoản thu này, đồng thời chấp nhận khả năng thua lỗ. Khi triển vọng tăng giá chưa rõ, quyết định trì hoãn giải ngân trở nên dễ hiểu.
TS Nguyễn Trung Kiên, Viện trưởng Chiến lược Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cho rằng, tâm lý phòng thủ khiến nhiều nhà đầu tư cá nhân ưu tiên giữ tiền, chờ cơ hội rõ ràng hơn. Tiền nhàn rỗi được gửi ngân hàng để hưởng lãi trong thời gian chờ đợi. Khi thanh khoản thấp, sự dè dặt có thể tiếp tục kéo dài bởi người mua cũng lo ngại khả năng bán ra khi cần.
Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư sử dụng vốn vay, mức lãi suất cao cũng tạo thêm sức ép ngay cả khi cổ phiếu không giảm giá. Hiện, lãi suất cho vay ký quỹ tiêu chuẩn tại SSI và VPBankS ở mức 13,5%/năm. Các công ty vẫn có gói ưu đãi thấp hơn, nhưng đi kèm điều kiện về hạn mức, khách hàng hoặc chương trình áp dụng.
Nếu vay 1 tỷ đồng với lãi suất 13,5%/năm, tiền lãi tính đơn trong 3 tháng vào khoảng 33,75 triệu đồng. Cổ phiếu đi ngang trong thời gian này vẫn khiến nhà đầu tư mất một khoản đáng kể. Nếu giá giảm, khoản lỗ do biến động thị trường cộng thêm chi phí vay sẽ làm giảm nhanh phần vốn tự có.
Ông Huỳnh Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Công ty Chứng khoán ngân hàng số Vikki lưu ý, hiện tượng dư nợ cho vay ký quỹ vẫn cao trong khi giá trị giao dịch thấp. Ông đặt khả năng một số nhà đầu tư lớn sử dụng cổ phiếu làm tài sản bảo đảm để vay vốn phục vụ nhu cầu khác. Đây là nhận định về khả năng sử dụng vốn, chưa phải kết luận đã được kiểm chứng trên toàn thị trường.
Dư nợ là số tiền còn tồn tại tại một thời điểm, còn thanh khoản phản ánh giao dịch trong từng phiên. Hai chỉ tiêu không nhất thiết tăng giảm cùng nhau. Nhưng khi khoản vay lớn chưa được thu hẹp mà giao dịch kém sôi động, chi phí duy trì danh mục là yếu tố nhà đầu tư phải tính đến.
Ở phía doanh nghiệp, theo ông Tuấn, mức lãi vay 12-14%/năm mà một số đơn vị phải chịu có thể làm tăng nhu cầu huy động thêm nguồn lực từ cổ đông lớn. Nguồn tiền dành cho đầu tư cổ phiếu cũng có thể bị hạn chế.
Lãi suất cao còn ảnh hưởng đến lợi nhuận ở doanh nghiệp vay nợ nhiều. Doanh thu tăng chưa chắc kéo theo lợi nhuận tương ứng nếu chi phí tài chính tăng nhanh. Bởi vậy, giá cổ phiếu có thể chịu sức ép từ cả hai phía: Người mua thận trọng hơn và triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp bị đánh giá lại.
Dòng tiền cần thêm căn cứ
Theo PGS, TS Ngô Minh Vũ, Giám đốc Chương trình đào tạo thị trường chứng khoán, Trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH), việc cổ phiếu giảm giá và VN-Index đi lùi sau thông tin tích cực không phải hiện tượng hiếm gặp. Kỳ vọng vào việc nâng hạng thị trường có thể đã được phản ánh vào giá từ trước. Trong khi đó, kỳ vọng khối nước ngoài tăng giải ngân và quay lại mua ròng vẫn chưa trở thành hiện thực.
Lộ trình của FTSE Russell (một trong ba tổ chức xây dựng chỉ số chứng khoán và phân loại thị trường lớn nhất thế giới) cũng cho thấy, việc đưa cổ phiếu Việt Nam vào các chỉ số mới nổi được chia thành nhiều đợt. Tỷ lệ trọng số đầu tư được bổ sung lần lượt là 10% vào tháng 9/2026, 20% vào tháng 3/2027 và 35% trong mỗi đợt tháng 6, tháng 9/2027. Đây không phải cam kết về lượng tiền chắc chắn giải ngân trong từng thời điểm.
Các quỹ còn phải tuân theo mục tiêu đầu tư, danh mục tham chiếu và điều kiện giao dịch. Trong lúc nguồn vốn mới được phân bổ theo lộ trình, hoạt động bán của những nhà đầu tư khác vẫn diễn ra.
Bối cảnh quốc tế cũng chưa thuận lợi cho việc gia tăng đầu tư vào tài sản rủi ro. Ngày 16/9, FED (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) nâng lãi suất mục tiêu thêm 0,25 điểm phần trăm, lên 3,75-4%. Lãi suất USD cao hơn có thể làm tăng sức hấp dẫn của tài sản bằng đồng USD. Với một khoản đầu tư tại Việt Nam, lợi nhuận không chỉ phụ thuộc vào giá cổ phiếu mà còn chịu tác động khi quy đổi tiền về đồng tiền gốc.
Dù vậy, không thể quy động thái bán ròng của khối nước ngoài cho FED. Quyết định bán còn liên quan đến định giá, cơ cấu danh mục và nhu cầu vốn của từng quỹ. Nâng hạng giúp mở rộng nhóm nhà đầu tư có thể tham gia, nhưng hiệu quả thu hút vốn vẫn phụ thuộc cơ hội sinh lời cụ thể.
Trong nước, diễn biến lãi suất cũng cần được nhìn theo từng thị trường. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất VND qua đêm bình quân liên ngân hàng tuần từ ngày 5 - 9/10 giảm còn 1,89%/năm. Tuy nhiên, đây là lãi suất giao dịch giữa các ngân hàng. Lãi suất hạ nhiệt ở kỳ hạn qua đêm vì thế chưa đồng nghĩa chi phí vốn của người vay đã giảm tương ứng. Điều thị trường cổ phiếu cần theo dõi là xu hướng lãi suất huy động, lãi vay thực tế và khả năng cải thiện lợi nhuận của doanh nghiệp.
Một số chuyên gia kỳ vọng thị trường có thể thuận lợi hơn từ năm 2027 khi lãi suất đạt đỉnh hoặc bắt đầu đi xuống. Tuy nhiên, đây là dự báo phụ thuộc vào diễn biến lạm phát, chính sách tiền tệ và tình hình quốc tế. Trong thời gian chờ đợi, kết quả kinh doanh và dòng tiền thực tế của doanh nghiệp sẽ có vai trò lớn hơn trong quyết định mua cổ phiếu.
Tùy anh