Bỏ qua điều hướng

Mùa nước nổi ở làng nghề đóng xuồng trăm tuổi

Mùa nước nổi ở làng nghề đóng xuồng trăm tuổi
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Chúng tôi men theo các cánh đồng ngập nước tỉnh Đồng Tháp. Thỉnh thoảng xuất hiện vài chiếc xuồng đi đặt dớn, giăng lưới bắt cá. Giờ đây, khi các tuyến đường nhựa, đường bê-tông ngày càng được đầu tư, mở rộng, ghe xuồng tại các nhánh sông, trên đồng cũng thưa dần.

Dẫu vậy, mỗi khi đến mùa nước nổi, trong mỗi người dân vùng sông nước không khỏi bồi hồi nhớ về những chiếc xuồng, ghe một thời vừa là phương tiện đi lại, mưu sinh, vừa giữ gìn nét văn hóa đặc trưng.

Giữ lửa nghề ở rạch Bà Đài

Men theo rạch Bà Đài, tôi tìm đến Làng nghề đóng xuồng, ghe Long Hậu, nay là xã Hòa Long, tỉnh Đồng Tháp, đã tồn tại hơn trăm năm. Qua bao thăng trầm, có lúc tưởng như làng nghề sẽ... “tắt lửa”. Nhưng không, 23 hộ dân vẫn cần mẫn giữ nghề truyền thống của cha ông. Anh Nguyễn Văn Quới (sinh năm 1968, ngụ ấp Long Hòa) vẫn đang say sưa với công việc thường nhật, ráp những be xuồng vào và làm các công đoạn cuối để chuyển cho nhân công chét chai, sớm giao cho khách.

Anh Quới được cha truyền nghề từ năm 13 tuổi. Khi ấy, anh thường xuyên đi theo những người trong gia đình đến các vườn tìm mua cây gỗ sao (loại gỗ từ 30 năm tuổi trở lên) mang về đóng xuồng. Những chiếc xuồng cui, xuồng Cần Thơ, ghe tam bản rất đắt hàng, khách nườm nượp tìm đến mua và chở đi tiêu thụ (chủ yếu đi bằng đường sông). Hơn chục năm trở lại đây, xưởng của gia đình phải đóng cửa, anh Quới vẫn là thợ lành nghề cho một xưởng khác. “Trước đây, tôi chủ yếu đóng xuồng cui bán cho những người đi giăng lưới, thả câu và nông dân làm phương tiện trong mùa nước nổi. Nhu cầu dùng xuồng ghe ngày càng giảm nhưng vì phần nhớ nghề, phần để có tiền lo cho gia đình, tôi vẫn theo nghề. Mỗi ngày công tôi được trả 300.000 đồng”, anh Nguyễn Văn Quới chia sẻ.

Người thợ làm việc quanh năm, nhưng bận bịu hơn vào mùa nước nổi, khoảng tháng 7-9 âm lịch. Anh Nguyễn Ngọc Thật, ngụ tại xã Lấp Vò gắn bó với nghề sông nước từ nhỏ và thường phải đi mua sắm phương tiện cho gia đình. Anh Thật cho biết: “Mỗi chiếc xuồng thường sử dụng hai đến ba mùa nước. Từ trước đến nay, mỗi khi cần mua xuồng ghe, tôi đều tìm về rạch Bà Đài, vì tôi tin vào chất lượng gỗ và tay nghề của thợ”.

Để tiết kiệm tiền thuê xe chở về nhà, sau khi chốt giá, anh Thật thường nhờ chủ trại mang xuồng ra bến sông, rồi tự bơi 5 km về cách nhà để... thử xuồng.

Cùng tôi đến rạch Bà Đài hôm ấy có ông Lê Thanh Hồng, chuyên viên Phòng Văn hóa-Xã hội xã Hòa Long. Qua từng trại cưa xẻ gỗ, trại đóng xuồng, ghe, ông chỉ cho chúng tôi biết cơ sở nào tồn tại lâu đời, cơ sở nào trước đây từng đông khách, nhưng nay đã chuyển hướng sang nghề khác. Ông Hồng vốn là người quê xã Long Hậu (nay là xã Hòa Long) và từng có thời gian đóng xuồng, ghe, do đó, những công đoạn đóng một chiếc xuồng, hay những bước thăng trầm về nghề ông nắm rất rõ. Ông Hồng kể: Nghề đóng xuồng, ghe tại các xóm ven rạch Bà Đài hình thành và phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 20. Người dân nơi đây biết ơn ông Phạm Văn Thuông (1875-1945), thường được gọi là ông Sáu Xuồng Cui là tổ nghề. Rất nhiều người năm xưa là học trò, được ông truyền dạy từ cách chọn gỗ đến kỹ thuật đóng, sơn, sửa chữa. Từ đây, xuồng cui và ghe tam bản rạch Bà Đài dần trở thành sản phẩm đặc trưng, được biết đến rộng rãi trong toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần lưu giữ và phát huy giá trị văn hóa nghề truyền thống của vùng sông nước Nam Bộ.

Hướng đi mới cho chiếc xuồng

Thời hoàng kim, nhất là giai đoạn 1978-2000, Làng nghề đóng xuồng, ghe Long Hậu có hơn 200 hộ và cơ sở, tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động. Mỗi năm, hàng chục nghìn chiếc xuồng, ghe mang thương hiệu Bà Đài theo những dòng kênh, sông, theo những cánh đồng mùa nước nổi tỏa đi khắp các tỉnh, thành phố miền Tây Nam Bộ.

Từ những năm 2010 đến nay, đường bộ ngày một phát triển, nhu cầu đi lại bằng phương tiện xuồng, ghe ngày một ít dần. Ngoài ra, xuồng ghe gỗ dần bị thay thế bởi phương tiện bằng kim loại, composite. Làng nghề bước vào những mùa khó khăn. Đỉnh điểm là năm 2020-2023, nhiều ghe đóng xong không bán được, phải nằm phơi mưa nắng. Nhiều người bỏ nghề, những xưởng đóng xuồng, ghe ngày một thưa vắng...

Từ hàng trăm hộ, đến nay chỉ còn 23 hộ với hơn 100 lao động bám trụ nghề xưa bằng những hướng đi mới. Những người thợ không chỉ giữ cách đóng xuồng, ghe của cha ông, mà còn tìm cách để sản phẩm truyền thống thích ứng với cuộc sống hôm nay. Ông Nguyễn Văn Tốt (thường gọi Bảy Tốt) là một trong những người như thế.

Gia đình ông Bảy Tốt có bốn đời làm nghề đóng xuồng, ghe. Những chiếc xuồng, ghe gỗ ngày càng khó tìm đầu ra, ông Bảy Tốt không khỏi lo lắng nghĩ đến một ngày làng nghề nổi danh miền sông nước dần đến nguy cơ mai một. Chính vì thế, ông đã tiên phong tìm hướng đi mới khi “thu nhỏ” thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Từ những mẫu xuồng, ghe được đóng ở rạch Bà Đài như: ghe tam bản, xuồng ba lá, cui, xuồng Cần Thơ đến ghe ngo, thuyền rồng... đã được ông Bảy Tốt kỳ công tái hiện với kích thước nhỏ bằng các loại gỗ phù hợp để trưng bày. Sản phẩm của ông có màu sắc tự nhiên, đẹp và giữ độ bền ở trên khô như: lõi mít, gỗ dầu u, me tây... Hiện, ông Bảy Tốt đã sáng chế 25 mẫu xuồng, ghe mi-ni. Mỗi sản phẩm có giá từ 600 nghìn đồng đến sáu triệu đồng, tùy mẫu mã, kích thước, đã mang lại cho gia đình ông doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

12-5493.jpg
Để đóng được ghe, xuồng tốt, người nghệ nhân phải lựa chọn các loại gỗ bảo đảm tiêu chuẩn.

“Làng nghề đóng xuồng, ghe đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Giờ đây, nhiệm vụ của chúng tôi là phải gìn giữ nghề mà tổ tiên để lại. Chính vì lẽ đó mà tôi luôn bám nghề và không ngừng tìm tòi, học hỏi để cho ra những sản phẩm mới, có tính thẩm mỹ cao”, ông Bảy Tốt tâm sự.

Ông Nguyễn Văn Tám, chủ cơ sở Tám Xuồng từng không ít lần nhận đóng chiếc ghe lớn tải trọng khoảng 40-50 tấn. Lúc ấy, ông Tám là thợ chính cho một cơ sở có tiếng trong làng. Tuy nhiên, khi thị trường ghe gỗ ngày càng thu hẹp, ông Tám về mở xưởng và chọn đóng xuồng, ghe kích cỡ nhỏ, cỡ vừa để bán cho khách du lịch mua về trang trí phòng, hoặc các cơ quan, đơn vị mua trang trí cho lễ hội. “Xuồng, ghe mi-ni này làm cực hơn so với loại lớn, phải tuân thủ kỹ thuật và giống xuồng ghe lớn, với đầy đủ chi tiết. Bù lại sản phẩm bán được cho nhiều khách”, ông Tám cho biết.

Ông Tám giới thiệu với chúng tôi một chiếc xuồng cui mi-ni dài khoảng 70 cm, mất khoảng hai ngày để hoàn thiện, được bán với giá 600 nghìn đồng. Có loại xuồng mi-ni kích cỡ lớn hơn, kỹ thuật đóng khó nên giá cao hơn. Vào mùa cao điểm, cơ sở Tám Xuồng sản xuất được khoảng 20 chiếc xuồng, ghe mi-ni mỗi tháng, thu nhập đạt 10-20 triệu đồng. “Những sản phẩm nhỏ không chỉ là nguồn thu nhập mà còn là cách để tiếp tục giữ nghề truyền thống”, ông Tám bộc bạch.

Thật mừng, khách du lịch đang ngày càng quan tâm đến các sản phẩm mang tính trang trí, kỷ niệm, đã tạo động lực cho người làm nghề. Người dân cũng vơi dần nỗi ám ảnh, khi chứng kiến nhiều chiếc ghe hàng chục tấn từng được hoàn thiện, tốn công, tốn của nhưng phải vứt bỏ vì mưa nắng.

Nói về chính sách bảo tồn và hỗ trợ người dân ở làng nghề, bà Phạm Thị Hoài, Phó Trưởng Phòng Văn hóa-Xã hội xã Hòa Long cho biết: Trước đây, địa phương từng đề xuất với ngành chức năng về việc mở rộng đường giao thông để phát triển du lịch trải nghiệm tại rạch Bà Đài. Hiện nay, sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính, địa phương đang tiếp tục rà soát trên cơ sở quy hoạch tổng thể để có phương án triển khai. Địa phương cũng như các đơn vị chuyên môn có liên quan tham mưu Đảng ủy và Ủy ban nhân dân xã trình tỉnh xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm gắn kết việc phát triển làng nghề với chương trình Xây dựng nông thôn mới.

Theo thời gian, nhiều nghệ nhân giỏi nghề như ông Tám Hay, Năm Nam, Ba Khải (Ba Nhơn)... đã tích cực truyền nghề cho con cháu. Sản phẩm của các nghệ nhân có độ bền chắc, tinh xảo. Ghe xuồng của làng góp mặt ở các chợ nổi, là phương tiện đi lại của nhiều hộ gia đình trong vùng.

Bài & ảnh: HỮU NGHĨA

Mùa nước nổi từng đưa ghe, xuồng trở thành phương tiện đi lại và mưu sinh không thể thiếu trên những cánh đồng ngập nước Đồng Tháp. Tuy nhiên, khi đường nhựa, đường bê-tông ngày càng mở rộng, hình ảnh xuồng đi đặt dớn, giăng lưới bắt cá đã thưa dần, kéo theo sự thu hẹp của những làng nghề gắn bó lâu đời với văn hóa sông nước. Dọc rạch Bà Đài, làng nghề đóng xuồng, ghe Long Hậu, nay thuộc xã Hòa Long, tỉnh Đồng Tháp, vẫn được 23 hộ dân duy trì sau hơn một thế kỷ tồn tại. Nghề hình thành và phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 20, với ông Phạm Văn Thuông (1875-1945), thường gọi là Sáu Xuồng Cui, được người dân tôn là tổ nghề nhờ truyền dạy kỹ thuật chọn gỗ, đóng, sơn và sửa chữa. Từ đây, xuồng cui và ghe tam bản rạch Bà Đài trở thành sản phẩm đặc trưng, từng được tiêu thụ rộng khắp Đồng bằng sông Cửu Long. Anh Nguyễn Văn Quới, sinh năm 1968, học nghề từ cha khi mới 13 tuổi, từng theo người thân tìm mua những cây gỗ sao từ 30 năm tuổi trở lên để đóng xuồng. Dù xưởng gia đình đã đóng cửa hơn chục năm, anh vẫn làm thuê cho một cơ sở khác với tiền công 300.000 đồng mỗi ngày, bận rộn nhất vào mùa nước nổi từ tháng 7 đến tháng 9 âm lịch. Việc tiếp tục bám nghề vừa giúp người thợ có thu nhập, vừa giữ lại kỹ năng thủ công đang đứng trước sức ép suy giảm nhu cầu. Giá trị của làng nghề còn được duy trì bởi niềm tin của những khách hàng như anh Nguyễn Ngọc Thật, người thường tìm về rạch Bà Đài mua xuồng vì đánh giá cao chất lượng gỗ và tay nghề thợ. Mỗi chiếc xuồng thường được sử dụng trong hai đến ba mùa nước, còn người mua có thể tự bơi quãng đường 5 km về nhà để tiết kiệm chi phí vận chuyển và kiểm tra phương tiện. Trong bối cảnh nhiều cơ sở đã chuyển nghề, 23 hộ còn lại không chỉ sản xuất một phương tiện thủy mà còn gìn giữ ký ức sinh hoạt và bản sắc văn hóa của cư dân vùng sông nước.