Sông Ba - con sông lớn nhất ở miền duyên hải Trung Nam Bộ-bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Rô (Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi), chảy theo thủy lộ dài 388 km để tìm về biển. Đoạn sông Ba chảy qua Tuy Hòa để ra Biển Đông được gọi là Đà Rằng (theo tiếng Chăm Pa cổ có nghĩa là “dòng sông của lau sậy”).
Dòng nước và phù sa của sông Ba làm nên một vùng đồng bằng duyên hải trù phú, nên người dân Chăm Pa xưa đã chọn đây là mảnh đất lành để sinh sống và xây dựng nền văn minh của mình, với biểu tượng là những ngôi tháp Chàm tuyệt mỹ cả về kiến trúc và mỹ thuật.
Tháp Nhạn là một cánh nhạn đơn lẻ trên đỉnh núi Nhạn, giống như tháp Bánh Ít ở Quy Nhơn. Trên những đỉnh núi thiêng liêng, người Chăm Pa đã dựng lên những ngôi tháp để làm điểm trú náu cho tinh thần của mình. Đây là nơi người Chăm Pa thờ Thiên Y A Na, tức “Mẹ Xứ sở” của cả vùng duyên hải miền trung.
Núi ở miền đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ vốn không quá cao, bởi chúng chỉ là những ngọn cô sơn nằm tách rời khỏi dãy Trường Sơn hùng vĩ. Đường lên đỉnh núi Nhạn chỉ quanh co chưa tới 100 bậc thang, bởi chỉ cao khoảng 60m so với mặt nước biển và chu vi chân núi chỉ khoảng 1,5 km.
Tòa tháp được xây theo tỷ lệ cân đối với ba phần: Đế, thân và mái, các tầng tháp đều có phong cách giống nhau, càng lên cao càng thu nhỏ lại. Chân tháp được ốp đá sa thạch. Thân cao, đồ sộ với một màu nâu đỏ rực rỡ. Nóc tháp gồm nhiều lớp xếp. Cửa và mặt chính của tháp quay về hướng Đông, đón ánh bình minh vào mỗi buổi sáng, cũng như gió từ biển Đông thổi vào. Ba mặt tường còn lại đều có trang trí hoa văn gắn với những ý niệm tôn giáo xa xưa và tạo hình của những vòm cửa giả.
Hình dáng của tháp nở phần dưới, thon dần lên trên như thể đây là dáng hình của một thiếu nữ Chăm Pa. Để tạo được hình dáng đó, người thợ xưa phải xây các tầng tháp theo lối càng lên cao càng thu hẹp lại. Do đó, tường phía trong tháp cũng uốn theo và thu nhỏ dần. Ở tầng trên cùng, vòm lại mang hình chóp nón và nối với nhau ở viên gạch cuối cùng. Lòng tháp có diện tích khoảng 25 mét vuông, đứng từ trong nhìn lên thấy không gian vừa cao rộng, vừa sâu thẳm huyền bí, được dùng để thờ nữ thần Thiên Y A Na.
Thế nên, về tổng thể, tháp Nhạn có hình dáng gần như hình vuông, với phần đỉnh tháp nhọn vươn cao, tượng trưng cho sự kết nối giữa đất và trời. Phần đỉnh tháp được chạm khắc hình tượng Linga, biểu tượng của thần Shiva trong Ấn Độ giáo, tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở và cân bằng trong vũ trụ.
Một trong những điều làm nên sự đặc biệt của Tháp Nhạn chính là kỹ thuật xây dựng bằng gạch nung đỏ của người Chăm Pa. Các viên gạch được xếp chồng lên nhau một cách hoàn hảo mà không cần sử dụng bất kỳ loại chất liệu kết dính nào.
Điều này đã khiến con người hiện đại phải kinh ngạc bởi sự bền vững của công trình qua hàng thế kỷ. Làm thế nào để tháp Nhạn đứng vững gần như nguyên vẹn bất chấp thời gian thì vẫn là bí mật chưa có lời giải đáp. Các nhà nghiên cứu chỉ đoán rằng, người Chăm Pa dùng một thứ keo làm từ nhựa cây dầu rái để dính các viên gạch, rồi dùng kỹ thuật mài chập để mài các viên gạch với nhau, cho đến khi bề mặt tiếp xúc giữa các viên gạch hoàn toàn khít không lộ ra một chút kẽ hở nào.
Nhưng, trên đỉnh núi Nhạn, người lữ khách cũng không nhất thiết phải trăn trở với câu hỏi ấy, khi đứng lặng ngắm nhìn từng dấu tích nghìn năm...
Hải An