Bỏ qua điều hướng
•

Những bộ phận thịt bò ngon đến mấy cũng nên hạn chế ăn

Những bộ phận thịt bò ngon đến mấy cũng nên hạn chế ăn
Nguồn ảnh: VietnamNet

Thịt bò giàu protein, sắt và vitamin B12, nhưng ăn phần nhiều mỡ, nội tạng ảnh hưởng sức khỏe. Người ăn nên chọn phần thịt phù hợp với thể trạng.

Tôi rất thích ăn thịt bò nhiều mỡ, đặc biệt là phần gầu bò. Xin chuyên gia cho biết, mỡ bò có ảnh hưởng gì đến sức khỏe và những ai nên hạn chế hoặc tránh ăn phần thịt này? (Lê Hoan - Hà Nội).

Bác sĩ chuyên khoa 2 Huỳnh Tấn Vũ - Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM tư vấn:

Thịt bò giàu protein, sắt, kẽm và vitamin B12 nhưng không phải phần nào cũng phù hợp để ăn thường xuyên. Những phần nhiều mỡ, nội tạng hoặc thịt chưa được nấu chín kỹ có thể tiềm ẩn rủi ro sức khỏe nếu sử dụng không đúng cách.

1. Phần thịt bò nhiều mỡ 

Những phần nhiều mỡ như gầu, u vai, ba chỉ nên được ăn có chừng mực, đặc biệt ở người cần kiểm soát mỡ máu, cân nặng hoặc có bệnh lý tim mạch.

Gầu bò có hàm lượng chất béo khá cao, khoảng 19g trên 100g thịt, trong đó có khoảng 7,5g chất béo bão hòa. Ăn quá nhiều gầu có thể làm tăng lượng chất béo nạp vào cơ thể, bất lợi cho việc kiểm soát cân nặng và mỡ máu.

thit bo.png
Thịt bò nên chọn phần nạc, mềm. Ảnh: Huyền Thương

Người mắc bệnh gout cũng nên chú ý khẩu phần thịt bò do thịt đỏ chứa purin, có thể làm tăng axit uric và góp phần khởi phát cơn gout cấp. Ngoài ra, phần thịt nhiều mỡ có thể khiến quá trình tiêu hóa chậm hơn, gây đầy bụng, khó chịu ở người cao tuổi hoặc người có hệ tiêu hóa nhạy cảm.

2. Nội tạng bò

Gan, thận, óc và các loại nội tạng bò có thể cung cấp một số dưỡng chất nhưng bạn cần thận trọng khi lựa chọn và sử dụng.

Nội tạng có thể chứa lượng cholesterol đáng kể, tùy loại. Nếu không được kiểm soát về nguồn gốc, bảo quản và chế biến, thực phẩm này còn có nguy cơ nhiễm vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng.

Đặc biệt, mọi người cần tránh ăn óc bò và các mô thần kinh của động vật không rõ nguồn gốc. Lá sách bò cũng phải được làm sạch, chế biến đúng cách; không sử dụng sản phẩm có dấu hiệu bị tẩy trắng hoặc xử lý hóa chất bất thường.

Lưu ý, bạn không nên ăn thịt tái hoặc chưa chín kỹ có thể chứa vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh. Vì vậy, nên ăn thịt bò đã được nấu chín phù hợp, nhất là trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và người suy giảm miễn dịch.

Khi chế biến, người dân cần dùng dụng cụ riêng cho thịt sống và thực phẩm ăn ngay, đồng thời rửa tay và vệ sinh bề mặt chế biến để hạn chế lây nhiễm chéo.

Theo khuyến nghị thường được áp dụng của Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới, người trưởng thành nên giới hạn tổng lượng thịt đỏ đã nấu chín ở mức khoảng 350-500g mỗi tuần, đồng thời ăn rất ít hoặc tránh thịt chế biến.

Dù giàu protein, sắt, kẽm và vitamin B12, thịt bò vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe nếu người tiêu dùng lạm dụng các phần giàu chất béo hoặc nội tạng. Bác sĩ chuyên khoa 2 Huỳnh Tấn Vũ thuộc Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM khuyến cáo người dân cần điều chỉnh lượng tiêu thụ tùy thuộc vào thể trạng cá nhân. Các phần thịt nhiều mỡ như gầu, u vai và ba chỉ chứa hàm lượng chất béo bão hòa cao, điển hình là 100g gầu bò chứa tới 19g chất béo cùng 7,5g chất béo bão hòa. Nhóm thực phẩm này gây bất lợi lớn cho người cần kiểm soát cân nặng, mỡ máu hoặc mắc bệnh tim mạch, đồng thời lượng purin trong thịt đỏ còn dễ kích hoạt cơn gout cấp. Bên cạnh đó, các phần mỡ này khiến hệ tiêu hóa chậm lại, dễ gây cảm giác đầy bụng khó chịu ở người lớn tuổi. Đối với nội tạng như gan, thận và óc bò, hàm lượng cholesterol cao cùng rủi ro nhiễm khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng đòi hỏi quy trình tuyển chọn và chế biến hết sức nghiêm ngặt. Người tiêu dùng cần kiên quyết tránh ăn óc bò không rõ nguồn gốc, đồng thời tuyệt đối không sử dụng lá sách có dấu hiệu bị tẩy trắng hóa chất. Để bảo vệ sức khỏe, thịt bò cần được nấu chín kỹ nhằm ngăn ngừa lây nhiễm mầm bệnh, đặc biệt đối với trẻ nhỏ, phụ nữ có thai và người suy giảm miễn dịch. Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới cũng khuyến nghị người trưởng thành chỉ nên giới hạn lượng thịt đỏ nấu chín ở mức 350 đến 500g mỗi tuần, kết hợp dùng riêng dụng cụ chế biến đồ sống để tránh lây nhiễm chéo.
amung