Bỏ qua điều hướng
•

Nội trú - lò luyện những bác sĩ 'thép'

Nội trú - lò luyện những bác sĩ 'thép'
Nguồn ảnh: VnExpress

Hành trình nghiệt ngã từ những ngày tháng "nô lệ y khoa" đã tôi luyện các bác sĩ nội trú thành những phẫu thuật viên chủ chốt nơi tuyến đầu cứu người.

TS.BS Nguyễn Hoàng Bình, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy, TP HCM, vẫn vẹn nguyên ký ức về ngày ông cùng đồng nghiệp Nguyễn Thái An, nay là Trưởng khoa Hồi sức phẫu thuật tim, khởi đầu chương trình nội trú Khoa Ngoại Lồng ngực năm 1997. Vị Trưởng khoa thời bấy giờ đã chào đón hai bác sĩ trẻ bằng câu nói: "Từ giờ hai cậu hãy trong tâm thế là 'nô lệ cho y khoa'".

Ban đầu, bác sĩ Bình chưa hiểu hết ý nghĩa sâu xa của câu nói đó. Phải đến khi thực sự dấn thân vào guồng quay công việc, ông mới thấm thía. Hai ông là bác sĩ nội trú đầu tiên của Bộ môn Ngoại Lồng ngực, Trường Đại học Y Dược TP HCM. Họ túc trực liên tục, biến phòng trực thành chỗ ăn ngủ. Sáu tháng đầu, họ luân phiên trực cách ngày, khám bệnh, làm thủ thuật, chạy cấp cứu, phụ mổ. Tất cả đều đến tay bác sĩ nội trú.

"Sáu tháng ấy, tôi dễ dàng chìm vào giấc ngủ ngay khi đặt lưng xuống. Ăn uống thất thường đã trở thành đặc điểm của người làm ngoại khoa", bác sĩ Bình hồi tưởng. Những dịp cuối tuần hiếm hoi vắng bệnh, ông mới có thời gian thư giãn bằng cách lắng nghe chương trình Làn Sóng Xanh qua chiếc radio cũ của khoa.

TS.BS Nguyễn Hoàng Bình, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy. Ảnh: Bệnh viện Chợ Rẫy

TS.BS Nguyễn Hoàng Bình, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy. Ảnh: Bệnh viện cung cấp

Bác sĩ Bình nhìn nhận những năm ấy không chỉ gian khổ, chúng là nền tảng vững chắc. Tích lũy kiến thức chuyên môn. Rèn luyện kỹ năng thực hành. Nâng cao khả năng xử lý tình huống cấp bách. Môi trường bệnh viện buộc họ phải không ngừng học hỏi, làm việc dưới áp lực cao, gánh vác trách nhiệm đối với sinh mệnh.

Chương trình đào tạo bác sĩ nội trú tại Việt Nam, khởi nguồn từ mô hình của Pháp và sau đó lan rộng toàn cầu, đã khẳng định vai trò là con đường tinh hoa trong ngành y. Đại học Y Hà Nội, đơn vị tiên phong với lịch sử từ năm 1974, chứng kiến sự phát triển vượt bậc của chương trình này. Ban đầu chỉ giới hạn cho một số ít sinh viên xuất sắc, chương trình đã mở rộng đáng kể để đáp ứng nhu cầu nhân lực y tế chất lượng cao của xã hội. Hiện nay, với 13 cơ sở đào tạo trên cả nước, chương trình nội trú vẫn là thử thách lớn, đòi hỏi sự cống hiến không ngừng từ các bác sĩ trẻ.

Cuối thập niên 1990, sinh viên y khoa sau tốt nghiệp đối mặt với thực trạng khó khăn trong tìm kiếm việc làm, nhiều người chấp nhận làm việc không lương nhiều năm tại các bệnh viện lớn. Kỳ thi nội trú, vốn chỉ dành cho khoảng 5% sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, mở ra một trong những cánh cửa để được giữ lại trường làm giảng viên hoặc làm việc tại các bệnh viện tuyến đầu.

Bác sĩ Bình tốt nghiệp y khoa vào tháng 5 và thi nội trú vào tháng 9/1996. Đến tháng 10, ông biết kết quả nhưng phải chờ đến tháng 4 năm sau mới chính thức nhập học. Trong thời gian chờ đợi, ông làm trình dược viên cho một công ty nước ngoài với mức thu nhập đáng kể. Khi nhận được thông báo nhập học, ông từ bỏ công việc hiện tại không chút đắn đo, bởi lẽ "trở thành bác sĩ mới là nghề mà mình khát khao theo đuổi".

Bác sĩ Phú ngả lưng chợp mắt ngay trong khu phòng mổ khi tranh thủ được chút thời gian sau những ca mổ kéo dài, được đồng nghiệp chụp hình lại. Ảnh: Bác sĩ cung cấp

Bác sĩ Phú ngả lưng chợp mắt ngay trong khu phòng mổ khi tranh thủ được chút thời gian sau những ca mổ kéo dài, được đồng nghiệp chụp hình lại. Ảnh: Bác sĩ cung cấp

Hơn hai thập kỷ sau, kỳ thi nội trú vẫn giữ nguyên độ khó và tính cạnh tranh cao đối với sinh viên y khoa. Bác sĩ Nguyễn Minh Dũng, 29 tuổi, Khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy, chọn nội trú vì nó "không phải con đường duy nhất nhưng là con đường hiệu quả nhất để tiếp thu kiến thức và kỹ năng". Sau ba năm, bác sĩ nội trú có chứng chỉ hành nghề và bằng chuyên khoa 1; tùy chương trình, một số người còn được cấp bằng thạc sĩ.

Để giành suất nội trú, Dũng phải học đêm, cạnh tranh gay gắt với những sinh viên có thành tích nổi trội. Kỳ thi chỉ diễn ra một lần duy nhất sau 6 năm đại học, dành cho sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi trở lên, không trượt môn nào năm cuối, với tỷ lệ chọi cao.

Điều thôi thúc Dũng là hình ảnh những bác sĩ kiên quyết cứu sống bệnh nhân bị ngừng tim do vết dao đâm xuyên ngực, mà anh chứng kiến khi sinh viên năm thứ 6. Giữa lằn ranh sinh tử, các bác sĩ ngoại lồng ngực mở ngực bệnh nhân ngay tại phòng mổ Khoa Cấp cứu.

"Lúc đó tôi xác định phải theo chuyên ngành này, ngay tại Chợ Rẫy", Dũng kể.

Khi trở thành bác sĩ nội trú, anh không ít lần hoài nghi bản thân trước những ca phẫu thuật tim kéo dài 8-9 giờ, việc làm quen với máy hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể và áp lực sinh tử trong phòng mổ. Nhưng những mũi khâu da đầu tiên được đàn anh hướng dẫn, hay khoảnh khắc chứng kiến bệnh nhân ghép phổi tự thở không cần bình oxy, tiếp thêm động lực. "Những khoảnh khắc đó là phép màu", anh nói.

Bác sĩ Bùi Quan Thiên Phú, 31 tuổi, Khoa Phẫu thuật Ung bướu Tiết niệu, Bệnh viện Bình Dân, cũng bắt đầu từ khát khao học nghề trong môi trường thực tế. Từ học sinh ưu tú với điểm 9, 10 ở phổ thông, Phú phải làm quen với điểm 5, 6 tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch dù học hành miệt mài.

Giai đoạn đầu tại Bệnh viện Bình Dân, cơ sở tuyến cuối về ngoại khoa TP HCM, Phú làm việc từ 6 giờ sáng đến nửa đêm, có những ca trực 36 tiếng liên tục. Một ca mổ nội soi phức tạp kéo dài từ 8 giờ sáng đến 7 giờ tối, anh đứng gần như bất động, không ăn uống, không đi vệ sinh.

"Trong phòng mổ, vì tập trung cao độ, thời gian trôi rất nhanh", Phú chia sẻ. "Bước ra khỏi phòng mổ mới hay trời đã tối đen, khi ấy mới cảm nhận sự mệt mỏi".

Phú nhớ mãi lần đầu được giao đóng bụng. Công việc mà đàn anh mất 30 phút, anh và bạn cùng khóa mất 1,5 giờ. Cả hai khâu tỉ mỉ từng lớp cân, cơ, mỡ, da, lòng lo lắng liệu vết mổ có kín và bệnh nhân có gặp biến chứng. Những thao tác nhỏ ấy chính là cách các bác sĩ trẻ học nghề từ những điều cơ bản nhất.

Vào năm nội trú thứ hai, Phú suy sụp khi chứng kiến một nữ bệnh nhân sinh năm 1991 mắc ung thư thực quản qua đời sau ca mổ phức tạp. Cú sốc giúp anh hiểu rõ hơn giới hạn của y học và cái giá của nghề phẫu thuật.

Phải mất 6 năm đại học cộng 3-4 năm nội trú, nhiều bác sĩ mới có thu nhập từ nghề khi ở độ tuổi 30. Bác sĩ Bình từng chạnh lòng khi tròn 30 tuổi mới nhận tháng lương đầu tiên, chưa có nhà cửa, trong khi bạn bè cùng trang lứa đã có chức vụ và tài sản.

"Thỉnh thoảng đi ăn, họ không bao giờ để tôi trả tiền", ông Bình kể. "Đến giờ vẫn có bạn nhắc lại hình ảnh tôi hồi xưa vội vã đi lại trong viện, túi áo blouse nhét ổ bánh mì chưa kịp ăn".

Dũng từng có thu nhập tốt từ dạy kèm tiếng Anh. Có lúc tự vấn tại sao theo đuổi một nghề đầy áp lực, vất vả mà thu nhập lại không tương xứng. Nhưng khát vọng cứu người và đam mê phẫu thuật níu giữ anh.

Bác sĩ Thiên Phú thăm khám cho người bệnh tại Bệnh viện Bình Dân. Ảnh: Trần Nhung

Bác sĩ Thiên Phú thăm khám cho người bệnh tại Bệnh viện Bình Dân. Ảnh: Trần Nhung

Với Thiên Phú, sự đánh đổi còn bao gồm thời gian gia đình. Anh có con 16 tháng tuổi nhưng từ khi bé đi học, anh mới kịp đón con tan học đúng một lần vào chiều thứ bảy. Việc nhà chủ yếu nhờ cậy bố mẹ. Vợ anh cũng là bác sĩ tại Bệnh viện Bình Dân sau khi tốt nghiệp nội trú, nhưng hai người gần như không có thời gian ăn trưa cùng nhau, thường tự đi làm vì giờ mổ của anh rất thất thường.

Sau nhiều năm làm việc và tích lũy kinh nghiệm, bác sĩ Bình trở thành một trong những phẫu thuật viên lồng ngực chủ chốt của Chợ Rẫy. Ông dẫn dắt ca ghép phổi đầu tiên tại bệnh viện cho bệnh nhân 39 tuổi bị xơ phổi giai đoạn cuối khi tình trạng đã nguy kịch. Sau ca ghép, bệnh nhân hồi phục và quay trở lại công việc.

Từ năm 2018, BS Bình tiên phong triển khai phẫu thuật lồng ngực bằng robot tại Chợ Rẫy, tham gia điều trị nhiều ca ung thư phổi phức tạp và hàng nghìn trường hợp cấp cứu, phẫu thuật, đưa người bệnh trở về từ lằn ranh sinh tử.

Với Dũng và Thiên Phú, những năm tháng đầu làm bác sĩ nội trú dần chuyển thành bước tiến trong nghề. Hai bác sĩ bắt đầu được giao phẫu thuật chính nhiều ca, thay vì chỉ hỗ trợ, dưới giám sát đàn anh.

Trải qua những năm tháng đầy mồ hôi, áp lực và nước mắt, khi được hỏi liệu có tiếp tục thi nội trú nếu có thể quay lại, cả ba bác sĩ đều có chung một câu trả lời.

"Chắc chắn. Đó là ước mơ suốt 6 năm học y của tôi".

Khi đang học năm 2 nội trú, bác sĩ Minh Dũng (hàng dưới cùng, thứ 2 từ phải sang) trúng suất học bổng sang Hàn Quốc học 6 tháng về phẫu thuật lồng ngực, sau đó mới về Việt Nam hoàn thành tiếp năm thứ 3 nội trú, nên quá trình học kéo dài hơn. Ảnh: Bác sĩ cung cấp

Khi đang học năm 2 nội trú, bác sĩ Minh Dũng (hàng dưới cùng, thứ 2 từ phải sang) trúng suất học bổng sang Hàn Quốc học 6 tháng về phẫu thuật lồng ngực, sau đó mới về Việt Nam hoàn thành tiếp năm thứ 3 nội trú, nên quá trình học kéo dài hơn. Ảnh: Bác sĩ cung cấp

Lê Phương

Chương trình đào tạo bác sĩ nội trú tại Việt Nam khởi nguồn từ mô hình của Pháp và được xem là con đường tinh hoa để rèn luyện nhân lực y tế chất lượng cao. Khởi đầu từ Đại học Y Hà Nội vào năm 1974, mô hình này đến nay đã mở rộng ra 13 cơ sở đào tạo trên cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Đây luôn là thử thách khắc nghiệt, đòi hỏi sự cống hiến không ngừng nghỉ từ những sinh viên y khoa xuất sắc nhất. Vào cuối thập niên 1990, kỳ thi nội trú có độ cạnh tranh rất cao khi chỉ dành cho khoảng 5% sinh viên tốt nghiệp loại giỏi để chọn lọc nhân lực cho các bệnh viện tuyến đầu. Sau khi trúng tuyển kỳ thi tháng 9/1996, TS.BS Nguyễn Hoàng Bình đã từ bỏ công việc trình dược viên thu nhập cao tại công ty nước ngoài để chính thức nhập học vào tháng 4/1997. Ông cùng đồng nghiệp Nguyễn Thái An trở thành hai bác sĩ nội trú đầu tiên của Bộ môn Ngoại Lồng ngực thuộc Trường Đại học Y Dược TP HCM. Bắt đầu công việc tại Bệnh viện Chợ Rẫy, họ nhận lời dặn dò về tâm thế sẵn sàng trở thành "nô lệ cho y khoa" từ vị Trưởng khoa thời bấy giờ. Trong sáu tháng đầu, hai bác sĩ phải luân phiên trực cách ngày, biến phòng trực thành nơi ăn ngủ và trực tiếp xử lý từ khám bệnh, làm thủ thuật đến chạy cấp cứu, phụ mổ. Những dịp cuối tuần vắng bệnh hiếm hoi, họ thư giãn bằng cách nghe chương trình Làn Sóng Xanh qua chiếc radio cũ của khoa. Môi trường làm việc áp lực cao cùng khối lượng công việc khổng lồ đã giúp các bác sĩ trẻ tích lũy kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng và nâng cao khả năng xử lý tình huống cấp bách. Quá trình tôi luyện nghiệt ngã đó trở thành nền tảng vững chắc để bác sĩ Nguyễn Hoàng Bình đảm nhận vị trí Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực và bác sĩ Nguyễn Thái An trở thành Trưởng khoa Hồi sức phẫu thuật tim. Sự trưởng thành của họ là minh chứng rõ nét cho vai trò then chốt của chương trình nội trú trong việc tạo ra những phẫu thuật viên chủ chốt cứu người.