Ngược dòng, “gặp” những người nằm lại
Ngược dòng Ô Lâu, chúng tôi tự hỏi nơi bắt đầu của Ô Lâu có gì để kể? Ô Lâu có hai chi lưu hữu trạch và tả trạch. Cả hai đều khởi nguồn từ những dãy núi thuộc Khu dự trữ thiên nhiên Phong Điền của TP Huế, rồi từ những miền rừng sâu tìm đường xuôi về đồng bằng. Riêng dòng Ô Lâu tả trạch, còn gọi là sông Thác Ma, trên hành trình ấy còn nhận thêm nguồn nước từ những dãy Ba Lê, Chiêm Giòng thuộc Quảng Trị. Dòng nước từ miền núi Quảng Trị theo Thác Ma chảy xuống Nam Hải Lăng, qua Mỹ Chánh, Lương Điền rồi về Phước Tích của Huế. Tại đây, tả trạch gặp hữu trạch, hai dòng nước nhập làm một trước khi tiếp tục cuộc hành trình ra phá Tam Giang.
Tấm bản đồ được mở ra, những đường đồng mức dày lên về phía tây Hải Lăng. Ở đó có dãy núi Ba Lê cao khoảng 1.001m (còn gọi là Dốc Miếu); dãy Chiêm Dòng cao từ 500 đến hơn 700m và hàng trăm khe suối lớn nhỏ. Từ những vùng núi ấy, nước gom về thành Ô Lâu tả trạch trước khi nhập vào dòng Ô Lâu. Ông Lê Văn Hoan, người từng có nhiều năm hoạt động cách mạng ở vùng núi này nhớ lại, không có chuyến nào lên rừng mà không có người hy sinh hoặc bị thương nặng. Là Bí thư huyện ủy, ngày ấy ông thường có năm, bảy đồng chí đi cùng. Có những lần trúng phục kích, ba, bốn người nằm lại. Những năm tháng nằm hầm bí mật, được người dân che chở, bóp bụng chuyền cơm, có khi để bảo vệ cán bộ phải hứng nguyên làn đạn, trở thành những ký ức mà tuổi già không phai.
Chiếc xe hai cầu chuyên chở gỗ rừng trồng đưa chúng tôi ngược núi. Con đường nhựa này từng được quân đội Mỹ mở sau Mậu Thân 1968, phục vụ xe tăng và phương tiện cơ giới đi từ quốc lộ 1 lên Cao điểm 367. Sau ngày hòa bình, nó trở thành đường dân sinh để người dân các xã phía đồng bằng lên khai phá miền tây. Mùa mưa rừng ở Quảng Trị nặng hạt, không gian bốn phía im lắng. Những quả sim cuối mùa nhòe trong màn nước. Cách chân Cao điểm 367 gần một cây số, xe không thể đi tiếp. Mọi người chia nhau đồ đạc. Mỗi người mang trên vai gần ba chục ký. Từ đó, chúng tôi đi bộ. Vòng qua chân Cao điểm 367 về phía nam, sương phủ kín rừng dù đã giữa trưa. Leo dốc trong mưa, áo quần ướt sũng nhưng người lại toát mồ hôi. Xuống đến phía tây Cao điểm 367 đã quá trưa. Cả đoàn dừng ở hố Máng nấu cơm, lấy sức đi tiếp.
Đến bình độ khoảng 700m, trời đã về chiều. Hai con suối được tìm đến đều cạn dòng. Điểm hạ trại được chọn ở một “yên ngựa” giữa hai quả đồi không tên, nơi có thể tránh phần nào vắt và muỗi. Không có nước, mọi người đành lấy nước mưa đọng trong những hố pháo để nấu ăn. Đêm ở rừng xuống nhanh. Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục lên đỉnh đồi Nước Mắm. Người đi rừng gọi như vậy bởi sau chiến tranh, họ tình cờ tìm thấy một thùng nước mắm trăm lít của bộ đội để lại. Len giữa rừng giang, men theo những con suối cạn, chúng tôi gặp nhiều mỏm đồi còn nguyên hầm hào, công sự. Chiến tranh không còn tiếng súng, nhưng dấu vết của nó vẫn nằm đó, âm thầm như những thân cây. Những cây gỗ thông tẩm dầu cắm xuống đất đã gần nửa thế kỷ vẫn còn ứa nhựa. Dấu đinh trên thân gỗ như một vết đóng xuống đất, nhắc về một thời mà con người phải sống giữa bom đạn và những cuộc hành quân không biết ngày trở lại.
Anh bạn đi cùng nhặt được một chiếc dép cao su, mân mê nó trên tay, nhìn một lúc rồi nói: “Cỡ chân con gái đây mà”. Giữa rừng núi mênh mông, câu nói ấy khiến tất cả lặng đi. Không ai biết chính xác người đã đi đôi dép ấy là ai. Cũng không biết cô gái ấy đã nằm lại ở đâu giữa tuyến đường từ khe Ba Lá lên Dốc Miếu, nơi từng là một cung đường hành quân chiến lược của bộ đội ta từ phía bắc vào chiến trường Quảng Trị rồi tỏa xuống đồng bằng Hải Lăng, Triệu Phong, sang vùng phía bắc Thừa Thiên Huế. Xuống đến bình độ khoảng 150m, chúng tôi tình cờ gặp một nhóm người đi tìm mộ liệt sĩ. Những cánh hoa mang theo từ xa đã bắt đầu tàn trên cung đường luồn rừng, vượt núi. Anh Nguyễn Văn Hạnh, người Hà Nội, vào tìm phần mộ người anh ruột, liệt sĩ Nguyễn Mạnh Chất, thuộc E36, F308, hy sinh ngày 4/7/1972. Giữa đỉnh đồi trơ trụi, mùi khói hương rưng rưng. Trên mâm lễ, có một chiếc khăn tay còn khá mới. Chiếc khăn ấy được mang đến cho một người đã nằm lại nơi này hơn nửa thế kỷ. Dòng Ô Lâu không chỉ bắt đầu từ những khe suối, nó còn bắt đầu từ ký ức của những người từng sống, chiến đấu và nằm lại trên những dãy núi này.
Dưới bến sông, những lời hẹn còn xanh
Rời những cánh rừng từng ngập bom đạn để xuôi về đồng bằng, Ô Lâu lại mang một câu chuyện khác. Ở đó có cây đa, bến cộ, những chuyến đò và những lời hẹn mà người đời đã gửi lại cho dòng nước. Lần theo Ô Lâu về phía hạ lưu, chúng tôi dừng ở Lương Điền. Sau lũy tre làng, một câu hát vọng ra giữa buổi chiều khiến bước chân chậm lại. Theo những người nghiên cứu văn hóa dân gian, tình sử Ô Lâu gắn với câu chuyện về một chàng thư sinh xứ Nghệ trên đường vào kinh ứng thí và một cô lái đò ở vùng Hội Kỳ. Chuyến qua sông của chàng nho sinh gặp một trận cuồng phong. Bằng sự khéo léo, cô lái đò đưa chàng sang bờ an toàn. Từ người mang ơn thành người thương, giữa hai người nảy sinh một lời hẹn. Nhưng lời hẹn ấy không thành. Khi chàng trở lại, cô lái đò đã không còn. Dân gian lưu lại nỗi buồn ấy bằng mấy câu ca dao: “Trăm năm đành lỗi hẹn hò/Cây đa, bến cộ, con đò khác đưa/Cây đa, bến cộ còn lưa/Con đò đã thác năm xưa tê rồi…”.
Câu ca dao dẫn chúng tôi tìm về bến cũ. Theo “Đại Nam nhất thống chí”, từng có bến đò Lương Điền ở huyện Hải Lăng và bến đò Mỹ Xuyên thuộc huyện Phong Điền. Con đường cái quan từ Huế ra Mỹ Xuyên đi qua Lương Điền, Trường Sanh, Diên Sanh. Đó từng là một phần của tuyến đường thiên lý Bắc - Nam, nơi những dòng người xuôi ngược giữa các vùng đất. NGƯT Trần Đại Vinh cho rằng, dòng sông không chỉ chia cách mà còn kết nối cư dân hai bờ, đưa theo những giao thoa văn hóa từ vùng kinh đô Huế đến phía nam Quảng Trị. Ở thôn Hội Kỳ, bia mộ bà Dương Thị Ngọt còn ghi rõ: “Cửu giai tài nhân” của Vua Thành Thái, thụy Thục Thuận. Lăng được dựng vào năm Thành Thái thứ 13, tức năm 1901. Theo TS Trần Đình Hằng, qua khảo sát dọc sông Ô Lâu ở Phước Tích, Hội Kỳ, Mỹ Chánh, ông nghe nhiều cách kể khác nhau về bà Dương Thị Ngọt. Có những thân phận đi qua cung điện rồi trở về quê cũ, cuối cùng chỉ còn lại một tấm bia đá và ký ức được truyền từ đời này sang đời khác. Giữa nhiều cách lý giải khác nhau, lăng mộ bà vẫn nằm lại ở Hội Kỳ như một dấu hỏi của lịch sử.
Điều còn lại với người Mỹ Chánh hôm nay là tên bà Nguyễn Thị Bích vẫn nằm trong gia phả. Người con gái của làng quê bên dòng Ô Lâu ấy bước vào một triều đại lẫy lừng, sinh một người con, sau đó trở lại Bình Định và sống những năm cuối đời trong cảnh ẩn dật.
Ở Mỹ Chánh, bên dòng Ô Lâu, chúng tôi lại gặp một câu chuyện khác. Ông Nguyễn Văn Hòa, tộc trưởng họ Nguyễn, mang ra một cuốn gia phả được viết trên giấy dó. Những trang giấy phủ bụi thời gian ghi lại gốc tích dòng họ và có tên bà Nguyễn Thị Bích, người con gái Mỹ Chánh được gia phả ghi là đã lấy Vua Quang Trung. Ông Hòa lần theo những dòng chữ cũ, kể về bà Bích, người con út trong gia đình có nhiều anh chị em. Theo gia phả, bà lấy Vua Quang Trung khoảng năm 1786. Chuyện bà gặp vị hoàng đế Tây Sơn được người làng truyền lại bằng những giai thoại gắn với chính dòng Ô Lâu. Có người cho rằng, trong một lần vua đi qua đây, phải dùng bè đưa voi, ngựa qua sông nên dừng lại, từ đó gặp người con gái Mỹ Chánh...
Từ miền núi phía tây Hải Lăng, nước Ô Lâu xuôi về đồng bằng, qua những làng quê, những bến đò, những dấu tích của một thời thiên lý rồi tiếp tục tìm về phá Tam Giang. Trên hành trình ấy, dòng nước đã chứng kiến chiến tranh và hòa bình, chia lìa và gặp gỡ, những lời thề và những cuộc lỗi hẹn. Có lẽ không thể tìm thấy trên bản đồ tất cả những gì một dòng sông mang theo. Ô Lâu vẫn chảy. Những bến sông xưa như vẫn đợi người về!
Bài và ảnh: PHAN VĨNH YÊN