Bỏ qua điều hướng

Tín dụng tam nông qua các thời kỳ đổi mới

Tín dụng tam nông qua các thời kỳ đổi mới
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Đồng hành với quá trình đổi mới kinh tế nông thôn, dòng vốn tín dụng đóng vai trò làm “bà đỡ” giúp ngành nông nghiệp chuyển mình từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa và hội nhập quốc tế.

Bà Nguyễn Thị Phượng, nguyên Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) chia sẻ với phóng viên Thời Nay về vai trò dẫn dắt của dòng tín dụng trong phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Phóng viên (PV): Thưa bà, nhìn lại lịch sử, sự ra đời của Agribank gắn liền với những bước ngoặt quan trọng nào của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam?

Bà Nguyễn Thị Phượng: Sự ra đời của Agribank gắn liền với cơ chế Khoán 10 (Nghị quyết 10-NQ/TW năm 1988 về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp - PV). Cùng lúc đó, Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập Ngân hàng Phát triển nông nghiệp (tiền thân của Agribank), tách ra từ hệ thống Ngân hàng Nhà nước để chuyển sang mô hình ngân hàng thương mại. Từ chỗ chỉ cấp phát vốn theo kế hoạch, chúng tôi phải tự huy động vốn để cho vay và bắt đầu có sản phẩm cho vay đến hộ sản xuất.

PV: Thời điểm mới thành lập, ngân hàng đã phải đối mặt với những thách thức gì về nguồn lực và con người?

Bà Nguyễn Thị Phượng: Lúc đó Agribank là một ngân hàng rất bé, nguồn vốn chỉ có khoảng 1.500 tỷ đồng nhưng phải phục vụ hệ thống cả nước. Thách thức lớn nhất là bộ máy nhân sự. Khi chia tách, chúng tôi gánh một lượng cán bộ rất đông, khoảng 30.000 người, phần lớn chỉ có trình độ sơ cấp hoặc bộ đội phục viên.

Năm 1990, Agribank đã có một quyết sách lịch sử khi trình Chính phủ cho 10.000 cán bộ nghỉ theo Quyết định 176 để giảm biên chế và thực hiện trẻ hóa đội ngũ. Tôi thuộc lứa sinh viên đại học chính quy đầu tiên được tuyển vào giai đoạn đó. Lãnh đạo lúc bấy giờ, như bác Tổng Giám đốc Phạm Văn Thực, rất quyết tâm phải đào tạo cán bộ có trình độ, ngoại ngữ để “vươn tay ra nước ngoài”, tiếp cận các tổ chức tín dụng quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (World Bank) hay Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ (FAO)…

PV: Bà có thể chia sẻ về câu chuyện “khai phá” những mảng nghiệp vụ mới khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu lương thực?

Bà Nguyễn Thị Phượng: Vào những năm 90 thế kỷ trước, Việt Nam chuyển mình từ quốc gia thiếu đói sang xuất khẩu lương thực. Khi đó, nếu nói về xuất nhập khẩu, người ta chỉ nghĩ đến Ngân hàng Ngoại thương. Tuy nhiên, lãnh đạo Agribank lúc ấy tin rằng thế hệ trẻ có thể khai phá mảng này.

Dù học chuyên ngành tín dụng nhưng tôi được phân sang mảng ngoại hối. Chúng tôi phải vừa làm vừa học, học lớp buổi tối ở Trường Ngoại thương, học từ các chuyên gia ngân hàng bạn và các khóa đào tạo của nước ngoài. Tôi là một trong những người đầu tiên viết giáo trình đào tạo ngược lại cho cán bộ chi nhánh khi mới 25 tuổi. Chúng tôi xây dựng các nghiệp vụ thanh toán xuất khẩu lương thực, thủy sản và mở mạng lưới ngân hàng đại lý quốc tế. Từ những mảng khai phá đầu tiên ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nghiệp vụ này đã lan tỏa ra cả nước. Agribank dần trở thành “bà đỡ” cho cả sản xuất lẫn xuất khẩu nông sản.

82.jpg
Khách hàng giao dịch tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Ảnh NGUYỆT ANH

PV: Bà từng chia sẻ câu chuyện, thời gian đầu, cán bộ ngân hàng phải “thuyết phục” người nông dân vay tiền?

Bà Nguyễn Thị Phượng: Đúng vậy, giai đoạn đầu người dân rất sợ vay tiền. Họ lo không có khả năng trả nợ. Có người vay về rồi lại gói chặt tiền cất đi. Đến hạn, họ lại mang đúng số tiền đó ra trả ngân hàng.

Để giải quyết, Agribank đã phối hợp với chính quyền, các đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh để thành lập các tổ vay vốn. Trong các tổ này, bà con học hỏi cách làm ăn của nhau, cán bộ ngân hàng đến hướng dẫn quy trình và tư vấn vay vốn để làm gì cho hiệu quả. Mô hình này cực kỳ thành công, đến nay có khoảng 50.000 tổ vay vốn trên khắp cả nước. Tín dụng không chỉ là tiền, mà còn là sự tư vấn. Cán bộ tín dụng tiếp xúc nhiều mô hình, biết đâu là dự án vướng mắc, đâu là dự án thành công để phổ biến lại cho bà con.

PV: Hiện nay, khi bước vào kỷ nguyên số, Agribank triển khai các dịch vụ hiện đại như mã QR hay ngân hàng số ở nông thôn gặp những khó khăn gì?

Bà Nguyễn Thị Phượng: Khó khăn lớn nhất ở vùng sâu, vùng xa là hạ tầng viễn thông và chi phí. Nhiều nơi kéo đường điện đã khó, nói gì đến lắp wifi cho từng hộ gia đình. Khoảng cách giữa các nhà ở miền núi rất xa, người dân thường phải ra ủy ban xã, điểm trường hoặc chợ mới có sóng.

Dù đã có ứng dụng điện thoại đầy đủ tính năng, nhưng thói quen bà con vẫn gắn chặt với tiền mặt. Agribank phải duy trì hơn 3.000 máy ATM, chi phí vận hành và nạp tiền mặt rất lớn. Trước đây, chúng tôi còn có mô hình ngân hàng lưu động bằng xe ô-tô chuyên dùng, được hỗ trợ vốn từ WB, ADB. Những chiếc xe này như một chi nhánh ngân hàng di động, có đầy đủ tính năng rút tiền, gửi tiền, mở tài khoản, đến từng bản làng xa nhất.

PV: Agribank thường được nhắc đến với tính chất “bà đỡ” tam nông và vai trò “an sinh xã hội” trong kinh doanh. Bà có thể nói rõ hơn về điều này?

Bà Nguyễn Thị Phượng: Với quy mô của mình, nếu chỉ thuần túy chạy theo lợi nhuận như các ngân hàng cổ phần, Agribank có thể đạt con số cao hơn nhiều. Nhưng chúng tôi phải gánh vác trách nhiệm an sinh xã hội.

Đối tượng của chúng tôi là nông dân với những món vay rất nhỏ lẻ, từ vài chục triệu đồng, chi phí hoạt động vì thế rất cao. Chúng tôi tài trợ hàng trăm tỷ đồng mỗi năm cho y tế, giáo dục, xây trường học, trạm xá. Đặc biệt, sự nhân văn thể hiện ở cách xử lý nợ. Ở quê, người nông dân chỉ có một ngôi nhà, lại là nơi thờ tự bao đời. Chúng tôi rất hạn hữu việc siết nợ tài sản. Thay vào đó, ngân hàng tìm cách cơ cấu lại nợ, giãn nợ, tạo điều kiện cho họ vay khoản mới để vực dậy sản xuất, trả nợ dần.

PV: Trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ, vai trò của Agribank đang dịch chuyển như thế nào?

Bà Nguyễn Thị Phượng: Khi nông thôn chuyển mình, chúng tôi cũng dịch chuyển từ cho vay hộ gia đình sang cho vay kinh tế trang trại, các doanh nghiệp nông nghiệp và cả những tập đoàn kinh tế lớn chuyên sâu về nông nghiệp.

Chúng tôi cũng tiên phong trong các chương trình sản xuất nông nghiệp sạch, đạt chuẩn chất lượng để xuất khẩu sang các thị trường khó tính. Agribank chấp nhận hy sinh lợi nhuận, đưa lãi suất xuống thấp để khuyến khích bà con áp dụng mô hình VietGAP, sản xuất có trách nhiệm. Hiện nay, “Đồng hành cùng Tam nông” không chỉ là slogan mà là văn hóa ngấm sâu vào mỗi cán bộ. Dù kinh tế có đô thị hóa, Agribank vẫn sẽ là “vô-lăng” dẫn dắt nguồn vốn, bảo đảm nông nghiệp luôn là trụ đỡ cho nền kinh tế đất nước.

PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!

VÂN SƠN (Thực hiện)

Gắn liền với Nghị quyết 10-NQ/TW năm 1988 về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, sự ra đời của Ngân hàng Phát triển nông nghiệp (tiền thân của Agribank) đã tạo bước ngoặt lớn cho dòng vốn tín dụng tại Việt Nam. Từ mô hình cấp phát vốn theo kế hoạch, ngân hàng chuyển sang tự huy động và triển khai các sản phẩm cho vay trực tiếp đến từng hộ sản xuất. Quá trình chuyển đổi này từng bước đưa nền nông nghiệp vượt qua giai đoạn tự cung tự cấp để bước vào thời kỳ sản xuất hàng hóa. Thời điểm mới thành lập, Agribank đối mặt khó khăn nghiêm trọng khi nguồn vốn chỉ vỏn vẹn khoảng 1.500 tỷ đồng nhưng phải gánh vác bộ máy 30.000 cán bộ với trình độ còn hạn chế. Năm 1990, ngân hàng thực hiện quyết sách lịch sử theo Quyết định 176, tinh giảm 10.000 nhân sự để trẻ hóa đội ngũ và tuyển dụng lực lượng sinh viên đại học chính quy. Dưới sự dẫn dắt của Tổng Giám đốc Phạm Văn Thực, đội ngũ mới được đào tạo bài bản về chuyên môn lẫn ngoại ngữ nhằm tiếp cận các tổ chức quốc tế như ADB, World Bank hay FAO. Vào những năm 1990, khi Việt Nam chuyển mình thành quốc gia xuất khẩu lương thực, Agribank đã chủ động khai phá mảng nghiệp vụ ngoại hối và thanh toán quốc tế. Các cán bộ trẻ thời kỳ đó vừa học tập chuyên gia nước ngoài vừa trực tiếp xây dựng giáo trình đào tạo, mở rộng mạng lưới ngân hàng đại lý phục vụ xuất khẩu nông, thủy sản. Những nỗ lực này giúp Agribank khẳng định vai trò "bà đỡ" chiến lược, đồng hành cùng nông dân và doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu.