Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định 1856/QĐ-TTg ngày 26/9, ban hành kế hoạch triển khai kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW và Kết luận 72-KL/TW.
Các văn bản này liên quan đến chủ trương xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Không quyết định đầu tư khi dự án chưa đủ điều kiện
Kế hoạch yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng theo 5 định hướng lớn, gồm bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa quy hoạch và đầu tư; lấy chất lượng phục vụ và hiệu quả thực tế làm mục tiêu; kết hợp hài hòa hạ tầng vật chất, hạ tầng số và hạ tầng tự nhiên; coi kết cấu hạ tầng là một ngành kinh tế chiến lược; đồng thời phát huy vai trò dẫn dắt của Nhà nước trong huy động nguồn lực.
Việc phát triển hạ tầng phải gắn với hiệu quả sử dụng đất. Quỹ đất và không gian phát triển cần được dự trữ, bảo vệ với tầm nhìn ít nhất 50 năm.
Quá trình triển khai phải đồng bộ với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, ngành và địa phương; đồng thời gắn với kế hoạch đầu tư công cùng các chương trình về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu, quốc phòng và an ninh.
Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Ảnh: Báo Chính phủ).
Các bộ, cơ quan và địa phương được yêu cầu rà soát kỹ điều kiện thực hiện trước khi quyết định đầu tư. Không để xảy ra tình trạng dự án được phê duyệt khi chưa bảo đảm đầy đủ các điều kiện về quy hoạch, đất đai, mặt bằng, nguồn vốn, vật liệu, công nghệ, nhân lực và hạ tầng kết nối.
Kế hoạch cũng yêu cầu quản lý dự án và tài sản hạ tầng theo toàn bộ vòng đời; tăng trách nhiệm của người đứng đầu và thiết lập đầu mối chịu trách nhiệm đối với các dự án liên ngành, liên vùng.
Việc phân cấp, phân quyền phải đi cùng phân bổ nguồn lực, năng lực thực thi, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, không làm phát sinh thêm các cơ chế hoặc bộ máy trung gian không cần thiết; ưu tiên tận dụng, tích hợp các chương trình, kế hoạch và nguồn lực hiện có.
Với các nhiệm vụ phát sinh thêm, cơ quan thực hiện phải xác định rõ nguồn lực và hiệu quả đầu ra.
Kế hoạch đề ra 6 nhiệm vụ cụ thể:
1. Đổi mới công tác quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm đồng bộ, liên thông, tầm nhìn dài hạn;
2. Đổi mới căn bản quản lý đầu tư và quản trị tài sản kết cấu hạ tầng;
3. Tập trung nguồn lực cho phát triển các hạ tầng chiến lược;
4. Đổi mới cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực;
5. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực, năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình;
6. Các nhiệm vụ phát triển kết cấu hạ tầng đến năm 2045.
Hoàn thiện các hành lang giao thông, logistics Bắc - Nam và Đông - Tây
Kế hoạch xác định ưu tiên nguồn lực cho các hạ tầng chiến lược, trước hết là hoàn thiện các hành lang giao thông và logistics theo trục Bắc - Nam, Đông - Tây.
Các tuyến đường bộ cao tốc, đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị, đường thủy, cảng biển và cảng hàng không sẽ được tăng cường kết nối với trung tâm logistics, khu công nghiệp, đô thị, khu kinh tế, hành lang kinh tế và cửa khẩu quốc tế. Việc đầu tư hạ tầng đồng thời phải gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực công nghiệp trong nước.
Trong lĩnh vực năng lượng, kế hoạch đặt mục tiêu phát triển đồng bộ nguồn điện, lưới truyền tải, hệ thống lưu trữ và các hạ tầng năng lượng chiến lược; tăng kết nối với các nước trong tiểu vùng và ASEAN. Hệ thống năng lượng phải nâng khả năng tích hợp các nguồn năng lượng mới, năng lượng sạch, đồng thời bảo đảm an ninh năng lượng và tính tự chủ.
Hạ tầng số cũng là một trọng tâm, gồm mở rộng mạng truyền dẫn, trung tâm dữ liệu, hạ tầng điện toán hiệu năng cao và hạ tầng phục vụ trí tuệ nhân tạo. Mục tiêu là nâng năng lực tính toán quốc gia và bảo đảm chủ quyền dữ liệu.
Kế hoạch đồng thời yêu cầu nâng khả năng chống chịu của hạ tầng trước thiên tai và biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước. Những khu vực được ưu tiên gồm Đồng bằng sông Cửu Long, các đô thị ven biển, trung tâm công nghiệp, cụm cảng lớn và những địa bàn có rủi ro cao.
Các điểm nghẽn về hạ tầng đô thị và hạ tầng xã hội cũng sẽ được rà soát, xử lý, nhất là tại các đô thị lớn, vùng động lực, khu công nghiệp, khu kinh tế và khu vực tập trung đông dân cư.
Kiến tạo các công trình biểu trưng cho tầm vóc quốc gia
Đến năm 2045, kế hoạch đặt mục tiêu hình thành trục hạ tầng Bắc - Nam và các hành lang Đông - Tây thế hệ mới.
Trục Bắc - Nam được định hướng tích hợp đường bộ, đường sắt, năng lượng, cáp quang và logistics, gắn với hệ thống đô thị cùng các trung tâm công nghiệp - dịch vụ. Trong khi đó, các hành lang Đông - Tây sẽ kết nối vùng nội địa với cảng biển, cửa khẩu và mạng logistics khu vực.
Hạ tầng năng lượng và hạ tầng số sẽ được phát triển theo hướng tích hợp. Quy hoạch truyền tải điện, cáp quang biển, trung tâm dữ liệu, điện toán hiệu năng cao và hạ tầng AI được gắn với việc sử dụng năng lượng sạch, qua đó nâng cao năng lực tính toán và bảo đảm chủ quyền dữ liệu.
Về thích ứng biến đổi khí hậu, kế hoạch đề ra việc xây dựng hệ thống giám sát tài nguyên nước theo thời gian thực; tăng liên kết vận hành hồ chứa, thủy lợi, thủy điện, cấp nước, chống ngập và kiểm soát xâm nhập mặn. Các khu vực có rủi ro cao sẽ được nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn chống chịu riêng.
Hạ tầng giáo dục, y tế, việc làm, an sinh xã hội, dịch vụ công và thị trường cũng được yêu cầu phát triển đồng bộ với hạ tầng số. Tại các đô thị lớn, đường sắt đô thị và đường sắt vùng được ưu tiên để kết nối các trung tâm việc làm, khu dân cư và hệ thống dịch vụ xã hội.
Một định hướng khác là phát triển hạ tầng đa tầng, gồm hạ tầng ngầm, hạ tầng biển và hạ tầng tầm thấp. Các đô thị lớn sẽ từng bước số hóa hạ tầng ngầm; trong khi cảng biển, logistics, năng lượng và đô thị biển được phát triển gắn với yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Kế hoạch cũng đề cập việc xây dựng hành lang bay và hệ thống điều hành các dịch vụ tầm thấp, đồng thời từng bước phát triển năng lực vệ tinh, trạm mặt đất, quan sát Trái đất, định vị và thông tin liên lạc.
Đáng chú ý, Việt Nam hướng tới xây dựng mô hình số thống nhất và từng bước hình thành “bản sao số” đối với các hệ thống giao thông, năng lượng, viễn thông, thủy lợi, đô thị, công nghiệp, dân cư, đất đai và môi trường. Các dự án lớn sẽ từng bước được mô phỏng trước khi đầu tư và giám sát theo thời gian thực trong quá trình vận hành.
Kế hoạch cũng đặt nhiệm vụ xây dựng tiêu chí lựa chọn và danh mục các công trình hạ tầng mang tính biểu trưng, tạo dấu ấn phát triển mới. Năng lực của doanh nghiệp và đội ngũ Việt Nam trong thiết kế, công nghệ, thi công, vận hành và quản trị sẽ là một trong những tiêu chí quan trọng khi chuẩn bị và triển khai các công trình này.