Bỏ qua điều hướng

Hai loại rau húng quen thuộc được ví như 'gia vị sống khỏe'

Hai loại rau húng quen thuộc được ví như 'gia vị sống khỏe'
Nguồn ảnh: VietnamNet

Không chỉ giúp món ăn dậy mùi, húng chanh và húng quế còn chứa tinh dầu cùng nhiều hợp chất thực vật được nghiên cứu về khả năng chống oxy hóa, kháng khuẩn.

Theo lương y Bùi Đắc Sáng - Hội Đông Y Hà Nội, trong y học cổ truyền, rau húng được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. 

Loại rau thơm này có tác dụng chống oxy hóa, kháng khuẩn vì chứa tinh dầu và một số hợp chất thực vật có hoạt tính sinh học. Theo Đông y, rau húng thường được dùng để hỗ trợ giảm ho, cảm lạnh, viêm họng. Hương thơm từ tinh dầu có thể tạo cảm giác thư giãn, dễ chịu.

Có 2 loại rau húng được ưa chuộng, trồng nhiều nhất: 

Húng chanh: Còn được gọi là tần lá dày, dương tử tô, tên khoa học Coleus aromaticus Benth., thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae). Cây sống lâu năm, lá dày, nhiều lông và mùi thơm đặc trưng gần giống chanh.

Lá húng chanh vừa được dùng làm rau gia vị vừa là dược liệu trong y học cổ truyền. Húng chanh có vị cay, tính ấm, quy vào phế, thường được dùng với mục đích giải cảm, long đờm, hỗ trợ giảm ho và các triệu chứng đường hô hấp.

Lá có chứa tinh dầu, trong đó có carvacrol tạo mùi thơm đặc trưng. Người dân thường sử dụng húng chanh để ăn kèm hoặc thái nhỏ ướp thịt, cá.

rau thom gia vi.png
Rau húng là gia vị cho món ăn ngon, tốt cho sức khỏe. Ảnh: Hoa Linh.

Trong dân gian, lá húng chanh còn được nhai, ngậm hoặc dùng phối hợp với gừng, hành trong các bài thuốc truyền thống khi cảm cúm, ho, nghẹt mũi. Tuy nhiên, đây là những cách sử dụng theo truyền miệng, không thay thế điều trị y khoa khi người bệnh có triệu chứng nặng.

Húng quế:  Loại rau này có tên khác là lá giổi, é tía, được trồng phổ biến ở nhiều nước châu Á và rất quen thuộc trong các món ăn của người Việt. Toàn cây húng quế chứa tinh dầu với nhiều hợp chất như linalool, estragole... giảm tổn thương tế bào và ngừa stress oxy hóa.

Người dân ăn húng quế thường xuyên giúp cơ thể kiểm soát chức năng mạch máu, ổn định huyết áp, phòng ngừa nguy cơ kết tụ tiểu cầu, từ đó làm giảm nguy cơ hình thành cục máu đông. 

Theo y học cổ truyền, loại rau thơm trên có vị cay, tính ấm, được sử dụng với mục đích giải cảm, làm ra mồ hôi, hỗ trợ tiêu hóa và giảm đau. Người dân có thể đun húng quế kết hợp với lá cây đinh hương, cho thêm một chút muối để nguội uống hoặc súc họng làm dịu cơn ho.

Điểm đáng chú ý của hai loại rau húng là có thể sử dụng như một phần của chế độ ăn hằng ngày. Tuy nhiên, người dân cần lưu ý húng quế có thể gây ra tác dụng phụ nguy hiểm nếu dùng quá nhiều, bao gồm: ngộ độc do quá liều eugenol, hạ đường huyết nguy hiểm, làm loãng máu, tăng nguy cơ chảy máu và gây co thắt tử cung ở phụ nữ mang thai. 

Húng chanh và húng quế là hai loại rau thơm quen thuộc trong ẩm thực Việt, đồng thời được ghi nhận là nguồn dược liệu tự nhiên giàu giá trị sinh học. Theo Lương y Bùi Đắc Sáng thuộc Hội Đông Y Hà Nội, hai loại gia vị này chứa hàm lượng tinh dầu phong phú cùng nhiều hợp chất thực vật có khả năng kháng khuẩn và chống oxy hóa hiệu quả. Việc sử dụng các loại rau này trong bữa ăn hằng ngày không chỉ gia tăng hương vị món ăn mà còn hỗ trợ tạo cảm giác thư giãn và tăng cường sức khỏe. Trong y học cổ truyền, húng chanh có tên khoa học là Coleus aromaticus Benth, vị cay, tính ấm, nổi bật với thành phần carvacrol giúp long đờm và giảm nhẹ các triệu chứng đường hô hấp. Thảo dược này thường được dùng làm gia vị chế biến thực phẩm hoặc kết hợp với gừng và hành trong các bài thuốc dân gian trị cảm cúm. Dù vậy, chuyên gia lưu ý đây là mẹo truyền miệng nên người bệnh không được tự ý thay thế điều trị y khoa khi xuất hiện dấu hiệu chuyển nặng. Đối với húng quế, các hoạt chất như linalool hay estragole hỗ trợ giảm tổn thương tế bào, ổn định huyết áp và phòng ngừa nguy cơ hình thành cục máu đông. Theo Đông y, cây có vị cay và tính ấm, thường được đun cùng lá đinh hương kèm chút muối nhằm hỗ trợ tiêu hóa, giải cảm và làm dịu cơn ho. Dù vậy, việc tiêu thụ quá mức húng quế có thể dẫn đến nguy cơ ngộ độc eugenol, hạ đường huyết, làm loãng máu hoặc gây co thắt tử cung ở phụ nữ mang thai.