Vô sinh, hiếm muộn đang trở thành vấn đề sức khỏe sinh sản được quan tâm trên toàn cầu. Tỷ lệ vô sinh tích lũy suốt đời tại khu vực Tây Thái Bình Dương, bao gồm nhiều quốc gia châu Á - Thái Bình Dương, là khoảng 23%, thuộc nhóm cao nhất trong các khu vực trên thế giới.
Tại Việt Nam, ước tính có hơn 1 triệu cặp vợ chồng gặp tình trạng vô sinh, hiếm muộn, với tỷ lệ khoảng 7,7%.
Trong đó, vô sinh nguyên phát chiếm 3,9%, vô sinh thứ phát chiếm 3,8%; khoảng 50% số cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn ở độ tuổi dưới 30. Tình trạng vô sinh thứ phát cũng là vấn đề đáng lưu ý, ảnh hưởng đến nhiều gia đình từng có thai trước đó.
Chia sẻ tại hội nghị khoa học quốc tế Fertility acadeMe Conference 2026 diễn ra ngày 31/10, GS.TS Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam, cho biết tình trạng vô sinh hiếm muộn ngày càng gia tăng là thực tế đáng quan tâm, không chỉ tại Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới.
GS.TS Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế (Ảnh: T.N).
Một trong những nguyên nhân là xu hướng kết hôn và sinh con muộn. Khi tuổi tăng, khả năng sinh sản của cả nam và nữ đều có thể suy giảm. Ở phụ nữ, tuổi tác ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng noãn. Ở nam giới, chất lượng tinh trùng cũng có thể thay đổi theo tuổi và tình trạng sức khỏe.
Bên cạnh đó, một bộ phận người dân còn tâm lý chủ quan, cho rằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng phát triển nên có thể trì hoãn việc sinh con mà không ảnh hưởng đáng kể đến cơ hội làm cha mẹ.
GS Tiến cho rằng đây là quan niệm cần được nhìn nhận thận trọng, tiến bộ kỹ thuật không thể loại bỏ hoàn toàn những giới hạn sinh học của khả năng sinh sản.
Các yếu tố về bệnh lý, viêm nhiễm, lối sống và môi trường cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản. Việc sử dụng rượu bia, thuốc lá và tiếp xúc với môi trường độc hại có thể tác động bất lợi đến chất lượng giao tử; một số yếu tố còn liên quan đến tổn thương ADN tinh trùng và khả năng thụ thai.
Không nên trì hoãn sinh con vì kỳ vọng vào kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Trong khi đó, công tác dân số Việt Nam vẫn đối mặt với thách thức duy trì mức sinh thay thế. Tổng tỷ suất sinh năm 2025 đạt 1,93 con/phụ nữ, tăng nhẹ so với mức 1,91 con năm 2024 nhưng vẫn thấp hơn mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ.
Mức sinh thấp trong thời gian dài có thể tác động đến cơ cấu dân số, nguồn lao động, tăng trưởng kinh tế và hệ thống an sinh xã hội.
Các phương pháp như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI), trữ đông noãn và phôi cùng những kỹ thuật hỗ trợ chẩn đoán, theo dõi điều trị đã mở thêm cơ hội cho nhiều người bệnh.
Tuy nhiên, hiệu quả điều trị không chỉ phụ thuộc vào kỹ thuật mà còn liên quan đến tuổi, nguyên nhân vô sinh, tình trạng sức khỏe, đặc điểm sinh sản và nhu cầu của từng người.
GS Eileen Manalo, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản (Ảnh: T.N)
GS Eileen Manalo, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản, kêu gọi áp dụng mô hình chăm sóc phối hợp giữa y khoa, tâm lý và xã hội. Cách tiếp cận toàn diện giúp người bệnh được chuẩn bị tốt hơn, không bỏ dở liệu trình giữa chừng, tham gia tích cực hơn vào quá trình điều trị.
Bên cạnh đó, chi phí điều trị vẫn là gánh nặng đối với nhiều gia đình. Quá trình hỗ trợ sinh sản có thể cần nhiều bước thăm khám, xét nghiệm và can thiệp; kết quả không phải lúc nào cũng đạt được ngay trong chu kỳ đầu tiên. Điều này khiến không ít cặp vợ chồng tại nước ta gặp khó khăn về tài chính và tâm lý khi theo đuổi điều trị.
GS Tiến mong muốn Nhà nước có thêm những chính sách hỗ trợ thiết thực, như hỗ trợ một phần chi phí thăm khám, xét nghiệm ban đầu hoặc một phần chi phí của chu kỳ điều trị đầu tiên.
Hội nghị khoa học quốc tế Fertility acadeMe Conference 2026 diễn ra trong 2 ngày 31/10 và 1/11 do Hội Phụ sản Việt Nam phối hợp với Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản tổ chức.
Hội nghị cập nhật những đổi mới trong y học sinh sản như ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), sử dụng dữ liệu thực tế trong đánh giá hiệu quả điều trị và các kỹ thuật phòng thí nghiệm đang phát triển.