Bỏ qua điều hướng

Lặn biển ảnh hưởng tim mạch thế nào

Lặn biển ảnh hưởng tim mạch thế nào
Nguồn ảnh: VnExpress

Ngâm mình trong nước, nhiệt độ lạnh, gắng sức và khí thở dưới áp suất cao khi lặn biển có thể gây áp lực cho tim.

Theo ThS.BS Nguyễn Hoài Vũ, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, khi lặn biển, cơ thể chìm trong nước. Áp lực của nước lên các chi khiến máu từ ngoại vi dồn về vùng ngực, làm lượng máu trở về tim tăng.

Trong môi trường nước lạnh, các mạch máu co lại để hạn chế mất nhiệt, khiến máu tiếp tục được dồn về trung tâm, sức cản của mạch máu tăng, từ đó huyết áp có thể cao hơn bình thường. Cơ thể phải điều chỉnh nhịp tim và hoạt động của hệ tuần hoàn để thích nghi với những thay đổi này.

Lặn biển vẫn đòi hỏi khả năng gắng sức nhất định dù cơ thể được nước nâng đỡ. Người lặn phải mang theo thiết bị, bơi và có thể phải chống lại dòng chảy hoặc di chuyển trong điều kiện sóng, nước lạnh. Khi gắng sức, nhu cầu oxy của cơ thể tăng, tim và hệ tuần hoàn phải đáp ứng để đưa đủ máu đến các cơ quan và cơ bắp. Trường hợp khả năng gắng sức hạn chế, người lặn nhanh chóng mệt, khó thở.

Người mắc bệnh tim mạch hoặc hạn chế gắng sức nên được đánh giá khả năng chịu đựng trước khi lặn. Ảnh: Hiệp Kit

Người mắc bệnh tim mạch hoặc hạn chế gắng sức nên được đánh giá khả năng chịu đựng trước khi lặn. Ảnh: Hiệp Kit

Khi lặn bằng bình khí, người lặn hít khí ở áp suất cao hơn so với trên mặt nước. Trường hợp lặn sâu, áp suất môi trường tăng, đồng thời cơ thể phải thích nghi với việc hít thở khí qua thiết bị và những thay đổi về áp suất của các loại khí hít vào. Các yếu tố này góp phần tạo thêm stress cho hệ tim phổi.

Theo bác sĩ Vũ, ở người khỏe mạnh, những thay đổi trên thường được cơ thể điều chỉnh và thích nghi. Tuy nhiên, khả năng dự trữ tim mạch không giống nhau ở mỗi người. Người lớn tuổi, thể lực hạn chế hoặc mắc bệnh tim mạch khó đáp ứng khi phải đồng thời chịu tác động của ngâm nước, lạnh, gắng sức và thay đổi áp suất. Khi đó, các triệu chứng như khó thở, đau ngực, hồi hộp hoặc choáng dễ xuất hiện, làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch.

Một số người có lỗ bầu dục còn tồn tại (PFO) - đường thông nhỏ giữa hai buồng tâm nhĩ xuất hiện từ khi còn trong bào thai và không mất đi khi lớn lên. Khi người lặn từ dưới sâu nổi lên mặt nước, áp suất giảm dần và có thể hình thành các bọt khí trong máu. Ở người có PFO, một phần bọt khí này có thể đi từ hệ tĩnh mạch sang động mạch, làm tăng nguy cơ bệnh giảm áp, đặc biệt là tổn thương thần kinh. Tuy nhiên, người có PFO không có nghĩa phải ngừng lặn biển hoặc đóng lỗ thông. Việc tiếp tục lặn cần được bác sĩ đánh giá dựa trên tiền sử bệnh giảm áp, đặc điểm PFO và cách thức lặn.

Người có bệnh nền tim mạch, hoặc khả năng gắng sức hạn chế cần được đánh giá tình trạng bệnh và khả năng chịu đựng môi trường và gắng sức trước khi lặn. Tùy tình trạng, bác sĩ đánh giá điện tâm đồ, siêu âm tim, thực hiện thêm xét nghiệm cần thiết để xác định nguy cơ.

Người lặn nên chọn điều kiện phù hợp với kinh nghiệm, tránh lặn khi đang mệt, mắc bệnh cấp tính hoặc có triệu chứng bất thường. Không nên tự ý tăng độ sâu, kéo dài thời gian hoặc tham gia những chuyến lặn đòi hỏi thể lực vượt quá khả năng.

Nếu xuất hiện đau hoặc tức ngực, khó thở bất thường, hồi hộp dữ dội, chóng mặt, choáng hoặc cảm giác sắp ngất, hãy dừng hoạt động và tìm kiếm hỗ trợ y tế.

Ly Nguyễn

Độc giả gửi câu hỏi về bệnh tim mạch tại đây để bác sĩ giải đáp
Lặn biển là hoạt động thể thao mạo hiểm đòi hỏi hệ tuần hoàn phải thích ứng liên tục với các tác động vật lý khắc nghiệt dưới nước. Theo ThS.BS Nguyễn Hoài Vũ từ Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, sự kết hợp giữa nhiệt độ lạnh, áp lực nước và việc hít thở khí dưới áp suất cao gây áp lực gia tăng đáng kể lên hệ tim phổi. Ở môi trường nước lạnh, các mạch máu ngoại vi co lại làm máu dồn về trung tâm, đẩy sức cản mạch máu và huyết áp tăng cao hơn bình thường. Đối với người lớn tuổi hoặc có tiền sử bệnh tim mạch, khả năng dự trữ và tự điều chỉnh của hệ tuần hoàn bị hạn chế đáng kể khi gắng sức. Việc hít khí qua bình nén ở độ sâu lớn làm tăng lượng oxy cần thiết, dễ dẫn đến các triệu chứng cấp tính như khó thở, đau ngực hoặc choáng sững. Đặc biệt, người có lỗ bầu dục còn tồn tại (PFO) đối mặt với rủi ro bọt khí chuyển từ hệ tĩnh mạch sang động mạch khi ngoi lên mặt nước, làm tăng nguy cơ tổn thương thần kinh do bệnh giảm áp. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối, các chuyên gia khuyến cáo người tham gia lặn biển cần thực hiện kiểm tra điện tâm đồ và siêu âm tim trước chuyến đi. Việc lựa chọn độ sâu cũng như thời gian lặn phải tuân thủ nghiêm ngặt theo năng lực thể chất và kinh nghiệm cá nhân. Ngay khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường như đau tức ngực hay chóng mặt, người lặn bắt buộc phải dừng hoạt động và tiếp cận ngay với hỗ trợ y tế chuyên khoa.