Bỏ qua điều hướng
•

Phải gắn bó đủ lâu và đủ tận tâm với âm nhạc

Phải gắn bó đủ lâu và đủ tận tâm với âm nhạc
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Sau thành công của vở opera Công nữ Anio được trình diễn ở cả Việt Nam và Nhật Bản năm 2023, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, Ban điều hành “Công nữ Anio” gồm các cơ quan ngoại giao, tổ chức nghệ thuật của cả hai nước tiếp tục sản xuất phiên bản mu...

Vừa trở về sau các buổi công diễn vở musical (11 đến 28/9) tại Nhà hát nghệ thuật KAAT Kanagawa, được khán giả Nhật Bản đón nhận nồng nhiệt, nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng có nhiều chia sẻ, trong niềm hy vọng về sự phát triển của khí nhạc Việt Nam.

8.jpg
Cảnh trong vở musical Công nữ Anio, buổi công diễn ngày 12/9, tại Nhà hát nghệ thuật KAAT Kanagawa, Nhật Bản.. Ảnh: NVCC

Sức mạnh cần thiết của âm nhạc Việt Nam

- Anh được mời viết phần âm nhạc cho cả hai vở Công nữ Anio khác hẳn về tính chất âm nhạc. Đây cũng là một việc hy hữu?

- Đầu tiên, chúng ta tạm hiểu opera dành cho các giọng chuẩn cổ điển, còn musical viết cho giọng nhạc nhẹ. Tuy hoàn toàn khác nhau về âm nhạc và phong cách, nhưng gần cuối vở musical có vài nét nhạc gợi nhớ tới phiên bản opera, để ai từng xem vở trước sẽ thấy hứng thú.

Qua đây, tôi học được người Nhật cách làm cái gì cũng đến nơi đến chốn, không bao giờ bỏ phí công sức. Mảnh đất nào mà họ đã đi qua đều phải được cày xới, đào sâu, phát triển hết cỡ. Quanh chuyện tình của công nữ Anio (tức công chúa Ngọc Hoa, con nuôi chúa Nguyễn Phúc Nguyên) với thương nhân Sotaro Araki, phía Nhật Bản còn từng làm cả truyện tranh.

- Nếu người Nhật chưa đặt hàng thì chưa biết bao giờ, anh mới có vở nhạc kịch đầu tay?

- Năm 2012, khi mới vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, có thời gian rảnh rỗi, tôi hứng nên viết opera Mỵ Châu-Trọng Thủy. Nhưng mới chỉ được nửa đường, bận bịu công việc nên đành gác lại.

Tôi cho rằng, opera là đích cao nhất mà nhà soạn nhạc nào cũng mơ chạm tới, vì nó là thể loại âm nhạc hàn lâm đặc sắc và lớn nhất của nhân loại, chứa đựng cả khí nhạc, thanh nhạc... Những khúc overture hoặc những đoạn dạo trong opera không khác gì bản giao hưởng, trong khi những cảnh múa trong opera cũng tương tự như vũ kịch.

- Một số nhà tổ chức sẵn sàng đầu tư đưa dàn nhạc, dàn nghệ sĩ nước ngoài tới nước ta biểu diễn, bán vé giá cao trong khi phần đông nghệ sĩ trong nước, bao gồm giới sáng tác, còn chật vật với nghề từ nhiều năm qua. Thực tế này hẳn gợi trong anh ít nhiều ngẫm nghĩ?

- Đúng là số lượng các chương trình hòa nhạc giao hưởng đang trở nên nhiều một cách bất thường trong thời gian gần đây, khiến cho nguồn cung tác phẩm không đáp ứng đủ và dẫn đến một số suy nghĩ đơn giản: Nhập khẩu tác phẩm, nghệ sĩ... Hướng nhập khẩu dễ làm, dễ được vỗ tay. Nhưng nếu không xây dựng được nguồn lực nội địa tốt cho lĩnh vực này thông qua tăng cường đầu tư sản xuất các chương trình của nghệ sĩ, tác giả trong nước thì về lâu dài, sẽ ảnh hưởng đến sức mạnh văn hóa của Việt Nam.

- Anh có đề xuất gì để khắc phục tình trạng này?

- Những định hướng về chiến lược văn hóa quốc gia đã có trong Đề cương Văn hóa Việt Nam của Đảng ta từ năm1943, phải đủ ba “chân kiềng”: Dân tộc, đại chúng và khoa học. Cá nhân tôi nghĩ, cần hiểu “dân tộc” ở đây không chỉ là văn hóa cổ truyền mà còn bao gồm những sáng tạo từ bản thân mình, từ nội lực của mình. Về hình thức, mình học hỏi phương Tây, nhưng không phải để nói câu chuyện của họ mà phải dẫn dắt vào câu chuyện của mình, mang câu chuyện của mình ra thế giới, để người ta hiểu và yêu quý mình.

Các nhà hát dành nhiều thời gian sáng đèn cho các chương trình nước ngoài, khán giả trong nước mua vé xem nghệ sĩ nước ngoài diễn tác phẩm cũng của nước ngoài; điều này không có gì là không tốt cả. Nhưng, cùng nguồn lực nội địa ấy, nếu được chia sẻ cho chính nghệ sĩ, tác phẩm trong nước, liệu có tốt hơn nữa không? Tôi chắc là có. Thay vì dành 95% tôn vinh họ, mình phải tăng dần sự đầu tư, ủng hộ cho nguồn lực của mình; bao giờ đạt được 50% của họ, 50% của mình thì lúc đó, âm nhạc Việt Nam mới có được sức mạnh cần thiết.

Việt Nam ta vẫn hay làm những thứ theo tầm nhìn có phần ngắn hạn, chưa khai thác hết bề rộng, chiều sâu của một chủ đề, câu chuyện nhằm tạo nên một hệ sinh thái các sản phẩm nghệ thuật để tương hỗ và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Một chương trình biểu diễn được chuẩn bị trong cả vài tháng chỉ để diễn một lần rồi thôi. Thay vì thế, tại sao không nghĩ đến việc: Chuẩn bị đôi ba năm rồi diễn cả trăm lần?

Chúng ta dường như đang quên mất “dấu chân phía trước”

- Anh có thể chia sẻ đôi nét về những dự án của riêng mình trong thời gian tới?

- Tôi vẫn tiếp tục sáng tác giao hưởng, không bỏ dở việc viết opera, musical... Tôi cũng duy trì việc thúc đẩy nhạc cụ cổ truyền Việt Nam phát triển mạnh hơn nữa. Mặc dù tôi đã dành không ít thời gian, nhiệt huyết cho công việc này nhưng vẫn thấy như muối bỏ biển so với môi trường âm nhạc Việt Nam.

- Anh ưu tiên viết tác phẩm để dàn nhạc giao hưởng đệm cho nhạc cụ dân tộc hay sáng tác cho dàn nhạc dân tộc luôn?

- Có nhiều cách. Dễ nhất là để dàn nhạc giao hưởng chơi phần đệm theo thẩm mỹ của châu Âu và chỉ giữ lại bản sắc trong giai điệu xuất xứ Việt Nam. Phức tạp hơn là kết hợp giữa tính khoa học của phương Tây trong dàn nhạc giao hưởng với tính dân tộc của nhạc cụ cổ truyền bản địa Việt Nam. Tiến xa hơn, có thể sử dụng hoàn toàn nhạc cụ Việt Nam để chơi những sáng tác theo tư duy mới nhưng được phát triển nhất quán trên thẩm mỹ Việt Nam, thậm chí biến nhạc cụ phương Tây thành nhạc cụ mở rộng cho dàn nhạc Việt Nam đương đại. Điều này đã có tiền lệ. Tôi lấy thí dụ: Guitar, violin, organ đều đã được Việt hóa trong lối chơi tài tử cải lương. Nghĩa là hướng đi này đã được các cụ nhà ta thi triển rất tuyệt vời, trong khi hiện nay, chúng ta dường như đang quên mất “dấu chân phía trước”.

- Đáng ra, anh đã trở thành một nghệ sĩ trình diễn đàn bầu nhưng rồi lại thành nhà soạn nhạc. Vì sao vậy?

- Hôm mẹ đưa tôi đến Cung Thiếu nhi Hà Nội để sinh hoạt hè, lớp dạy các bộ môn âm nhạc phương Tây đã hết chỗ, chỉ còn lớp dành cho nhạc cụ dân tộc, thế là cuối cùng tôi học đàn bầu và rồi rất yêu nhạc cụ này. Nói chung, khi theo học bộ môn nào, tôi đều phát hiện cái hay, cái đẹp của nó.

Tuổi trẻ, ai chẳng thích nhạc nhẹ. Nhưng nếu can đảm dấn thân vào lãnh địa của âm nhạc giao hưởng, bạn sẽ bước vào bên trong một lâu đài nguy nga, tráng lệ. Ngược lại, có những người trong lĩnh vực giao hưởng bảo: Nhạc jazz hay hip hop “có gì đâu”, nhưng nếu chơi trong đó, bạn sẽ thấy nó sảng khoái và thú vị đấy. Ban đầu, tôi không nghĩ nhạc cổ truyền hay đến thế, nhưng đến lúc học rồi, càng thấy nó hay thật.

Tôi đã từng để bản thân trôi nhiều năm theo nhạc nhẹ, kể từ khi khoảng 15 tuổi. Đến lúc theo học bậc đại học về sáng tác, tôi mới nhận ra, giao hưởng thật tuyệt vời. Cuối cùng, mới thấy nhạc nào cũng hay hết, miễn mình phải đi đủ lâu và tận tâm với nó.

- Anh hẳn là một trong số ít những nghệ sĩ hạnh phúc nhất khi trải nghiệm đầy đủ những không gian âm nhạc khác nhau, và giờ đây có khả năng kết hợp nhiều không gian âm nhạc ấy trên hành trình nghệ thuật của mình?

- Bản thân tôi cũng không ý thức được niềm hạnh phúc đó ngay từ đầu đâu (cười). Trong thời gian mới học về giao hưởng, có lúc, tôi còn thấy tiếc vì đã không học âm nhạc phương Tây từ nhỏ, để có thể tiếp cận sâu hơn. Nhưng một thời gian sau, khi ngoài 30 tuổi, tôi nhận ra sự quý giá vì tuổi thơ đã được học nhạc cổ truyền.

- Chân thành cảm ơn anh về cuộc trò chuyện cởi mở!

Nguyễn Mạnh Hà (thực hiện)

Thành công của vở nhạc kịch Công nữ Anio tại Nhà hát nghệ thuật KAAT Kanagawa (Nhật Bản) từ ngày 11 đến 28/9 vừa qua đánh dấu bước tiến quan trọng trong hợp tác nghệ thuật giữa hai quốc gia. Nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng đã chuyển thể trọn vẹn câu chuyện tình lịch sử giữa công nữ Ngọc Hoa và thương nhân Sotaro Araki từ phiên bản opera sang thể loại musical. Dự án không chỉ thể hiện tư duy làm nghệ thuật chỉn chu, đào sâu đến cùng của đối tác Nhật Bản mà còn khẳng định khả năng làm chủ các hình thức âm nhạc hàn lâm của nghệ sĩ Việt Nam. Sự bùng nổ của các chương trình hòa nhạc giao hưởng nhập khẩu gần đây đang bộc lộ khoảng trống lớn về nguồn cung tác phẩm khí nhạc nội địa. Việc đưa các dàn nhạc và nghệ sĩ nước ngoài về biểu diễn thu hút khán giả nhưng chưa giải quyết được bài toán phát triển bền vững cho nền âm nhạc trong nước. Nếu phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lực bên ngoài mà bỏ qua khâu đầu tư sản xuất tác phẩm của tác giả Việt, sức mạnh văn hóa dân tộc sẽ đối mặt với nguy cơ suy giảm về lâu dài. Để xây dựng nội lực âm nhạc vững chắc, việc vận dụng định hướng từ Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943 với ba nguyên tắc Dân tộc, Đại chúng và Khoa học vẫn giữ nguyên giá trị thời sự. Khái niệm dân tộc cần được hiểu rộng hơn, bao gồm các sáng tạo mới xuất phát từ năng lực nội tại thay vì chỉ dừng lại ở việc bảo tồn văn hóa cổ truyền. Tiếp thu hình thức nghệ thuật phương Tây để kể lại câu chuyện của chính dân tộc mình chính là con đường đúng đắn để khí nhạc Việt Nam khẳng định vị thế trên bản đồ quốc tế.