Anh đúng là một “chuyên gia”: ở thành phố thôi nhưng hỏi thông tin ở quê là anh vanh vách, từ nhân sự họ hàng đến cục diện kinh tế, xã hội của quê.
Lần đầu về quê là khi anh đã có vợ con rồi, trưởng thành lắm rồi. Lòng háo hức, anh đọc trước bao nhiêu tài liệu về lịch sử vùng đất ấy, thấy nói có thiên nhiên đẹp, có chùa nổi tiếng, có nhiều làng nghề thú vị như đan lát với rèn dao…; đặc biệt trong chiến tranh quê anh hết sức anh hùng.
Về quê, sau khi đi một vòng hết các di tích lịch sử trong vùng, lòng vô cùng thỏa mãn vì đã được nhìn tận mắt, sờ tận tay những chi tiết của câu chuyện sử vĩ đại, anh H. đặt ra tiếp theo là đi thăm thú thiên nhiên. Thật bất ngờ, anh thấy thiên nhiên ở đây quá sức độc đáo: mềm mại lẫn dữ dội, vượt xa những gì sách tả. Anh chảy cả nước mắt vì ân hận sao lâu nay mình cứ ngắm sông ngắm núi đâu đâu, đến tận bây giờ mới ngắm sông ngắm núi quê mình.
Thế rồi sẵn đà, anh H. lên lịch tiếp theo đi thăm cho hết các làng nghề truyền thống trong vùng. Đời sống kinh tế là cái xương sống của lịch sử, anh nghĩ. Nhưng đến đoạn này, công cuộc “lần theo trang sách lục hào quang” bỗng hóa bẽ bàng. Anh bảo, “May mà khi ấy tôi không dắt theo hai đứa bé”.
Đầu tiên, anh thuê xe đến làng nghề đan lát mây tre. Đi suốt con đường dông dốc cây xanh, ngó nghiêng chẳng thấy nhà nào đan cả. Cuối đường là cái chợ to có hai hàng bán rổ rá tre hệt như nhau: mẫu mã lèo tèo, đường đan uể oải như của ông cụ vừa ngủ vừa đan. Hỏi ra chẳng ai biết một hộ đan tre nào trong “làng nghề” ấy.
Anh H. lại đi tiếp đến nơi nghe nói có nghề rèn dao, biết đâu mua được con nào săng sắc cho vợ làm bếp. Nhưng cả khu ấy chỉ có mỗi một hàng rèn. Anh đợi mãi không gặp chủ tiệm. Ở đây người ta rất thật thà, hàng hóa cứ để thế, xe cộ cứ vứt thế giữa đường... Trong lúc đợi, anh ngắm nghía kỹ càng, hình như cái hàng này cũng chỉ làm vớ vẩn, còn lại bán toàn dao kéo công nghiệp bình thường.
Anh bèn đi tiếp sang làng mộc. “Nốt cái này…”, anh vớt vát hy vọng, biết đâu kiếm được món gì bằng gỗ hay hay… Quả là cũng có hàng đồ mộc, cũng có tiếng máy cưa máy cắt, nhưng bầu không khí chắc chắn không phải của làng nghề. Anh bảo đó là không khí của bán buôn bình thường, không có cái mơ mộng say mê của giới nghệ nhân khi bàn về gỗ...
Rồi làng bún, làng chè… Tất cả đều như nhau là ngược hoàn toàn với những gì anh đọc được. Hoặc là làng nghề ở đây đã “chết”, hoặc là họ làm việc về đêm kiểu du kích, chứ ban ngày anh hầu như không thấy hoạt động sản xuất, chỉ thấy bán buôn, không thấy tay nghề.
Sau một ngày như thế, anh H. thấy rã rời như lần đi họp lớp, tưởng gặp lại các bạn nữ xinh đẹp, nhưng cuối cùng nhan sắc ấy chỉ còn là huyền thoại. Anh kết luận, đây là “tội” của mấy cậu bên văn hóa với du lịch ở cơ sở đây, đúng ra họ phải cập nhật đều đặn lên “tuyến trên” tình hình tàn lụi của những làng nghề cũ, hoặc sự chớm nở của những làng nghề mới. Chứ ai lại để thông tin lệch với thực tế thế này… Anh tưởng tượng ra sự bẽ bàng của các đoàn khách phương xa, rồi anh nghĩ khéo Nhà nước phải có bộ tiêu chuẩn của một làng nghề đang “sống” thật sự, để rồi từ đó phân loại tài trợ cho các làng nghề trên cả nước: loại nào để “cứu”, loại nào để “thúc đẩy”, loại nào để “ươm và gây giống”, và quan trọng để người ta thôi tô hồng các “làng ma”.
Cam Thảo