Bỏ qua điều hướng
•

Cấm thuốc lá điện tử, nhiều điểm bán chuyển sang “chợ mạng”

Cấm thuốc lá điện tử, nhiều điểm bán chuyển sang “chợ mạng”
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Sau khi lệnh cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng có hiệu lực, 64% điểm bán đóng cửa, nhưng gần 35% chuyển sang bán trực tuyến. Kết quả này đặt ra yêu cầu gắn trách nhiệm của các nền tảng số.

64% điểm bán được khảo sát đã đóng cửa, gần 35% chuyển sang bán trực tuyến

Ngày 29/9, Trường Đại học Y tế công cộng tổ chức Hội thảo kỹ thuật “Hiệu quả ban đầu của quy định cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại Việt Nam dựa trên kết quả nghiên cứu”.

Nghị quyết 173/2024/QH15 của Quốc hội quy định cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng từ năm 2025.

Kết quả nghiên cứu bước đầu của Trường Đại học Y tế công cộng cho thấy nhiều tín hiệu thay đổi tích cực sau khi quy định cấm có hiệu lực.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thảo, đại diện nhóm nghiên cứu, cho biết một trong những kết quả đáng chú ý là hoạt động bán công khai thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại các điểm bán giảm rõ rệt.

Cấm thuốc lá điện tử, nhiều điểm bán chuyển sang “chợ mạng” - 1

Trong 126 cửa hàng từng kinh doanh trước khi quy định cấm có hiệu lực, khoảng 64% đã đóng cửa; gần 35% chuyển sang bán trực tuyến và chỉ còn khoảng 1% vẫn bán đồng thời trực tiếp và trực tuyến.

“Kết quả này cho thấy hoạt động bán công khai tại các địa điểm được khảo sát đã giảm mạnh. Tuy nhiên, việc khoảng một phần ba số cửa hàng chuyển sang bán trực tuyến cũng cho thấy hoạt động kinh doanh có xu hướng dịch chuyển kênh thay vì biến mất hoàn toàn”, TS Thảo nhấn mạnh.

Ngoài ra, các tác giả cũng tiến hành nghiên cứu định lượng trên 2.462 sinh viên từ 18 đến 24 tuổi tại các trường đại học ở Hà Nội, Đà Nẵng, Huế và TPHCM; đồng thời quan sát 126 điểm bán lẻ và thực hiện 24 cuộc phỏng vấn sâu.

Kết quả cho thấy 3,3% sinh viên đang sử dụng thuốc lá điện tử và 0,8% đang sử dụng thuốc lá nung nóng. Con số này thấp hơn so với các nghiên cứu trước cùng nhóm đối tượng khảo sát. Tỷ lệ đang sử dụng thuốc lá điện tử ở thanh thiếu niên và thanh niên là khoảng 7% năm 2020, 13% năm 2021, 9% năm 2023.

Xu hướng tương tự được ghi nhận đối với phơi nhiễm quảng cáo, khuyến mại.

Cụ thể, 38% sinh viên cho biết đã nhìn thấy quảng cáo thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng trong 30 ngày trước khảo sát, trong khi gần 33% từng nhận được lời mời dùng thử hoặc khuyến mại. Các khảo sát trước ghi nhận mức phơi nhiễm quảng cáo khoảng 73% năm 2020 và 67% năm 2024.

TS Thảo cho rằng những kết quả trên cho thấy những tín hiệu tích cực ban đầu sau khi quy định cấm có hiệu lực. Tuy nhiên, bằng chứng nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tiếp cận thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, đặc biệt trên môi trường số, vẫn là vấn đề cần tiếp tục được quan tâm.

Hoạt động quảng bá, mua bán đang dịch chuyển sang môi trường số

Nghiên cứu theo dõi dữ liệu trực tuyến trong giai đoạn tháng 1/2024 đến tháng 2/2026 trên các nền tảng mạng xã hội cho thấy sự thay đổi đáng chú ý về nội dung liên quan đến thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng trước và sau khi Nghị quyết 173 được ban hành và có hiệu lực.

Số bài đăng liên quan, tỷ trọng nội dung thuộc nhóm quảng cáo/bán sản phẩm đều giảm. Tuy nhiên, khảo sát sinh viên cho thấy môi trường trực tuyến vẫn là nguồn phơi nhiễm quan trọng.

Các chuyên gia cho rằng kiểm soát thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng trong giai đoạn tiếp theo cần chú trọng hơn đến môi trường số.

Cấm thuốc lá điện tử, nhiều điểm bán chuyển sang “chợ mạng” - 2

ThS Đoàn Thu Huyền, Tổ chức Chiến dịch Trẻ em Không thuốc lá tại Việt Nam (Ảnh: T.M).

Chia sẻ kinh nghiệm của Singapore, ThS Đoàn Thu Huyền, Tổ chức Chiến dịch Trẻ em Không thuốc lá tại Việt Nam, cho rằng cần kiểm soát thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đồng bộ từ nguồn cung đến môi trường trực tuyến.

Singapore phối hợp giữa y tế, cảnh sát, hải quan, quốc phòng và các cơ quan quản lý để kiểm soát từ nhập khẩu, buôn lậu đến bán, tàng trữ và sử dụng. Nước này cũng tăng cường kiểm soát tại các cửa khẩu và trên nền tảng số. 

Mức xử phạt cũng được phân theo tính chất, mức độ vi phạm, một số hành vi có thể bị xử lý hình sự thay vì chỉ áp dụng chế tài hành chính.

Vì thế, bà đề xuất Việt Nam cần ưu tiên kiểm soát nguồn cung, thay vì chỉ tập trung vào người sử dụng hoặc từng điểm bán. Việc xử lý ngay từ nguồn có thể giúp ngăn một lượng lớn sản phẩm tiếp tục được đưa ra thị trường.

Bên cạnh đó, cần giao rõ trách nhiệm cho một cơ quan và thẩm quyền thực tế để kiểm tra, tịch thu, bắt giữ và áp dụng mức phạt cố định khi phù hợp. 

“Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng số trong việc kiểm soát hoạt động mua bán, quảng cáo và phân phối thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng trên môi trường mạng”, bà Huyền nói.

Sau khi quy định cấm thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng có hiệu lực, nhiều điểm bán công khai đã đóng cửa, nhưng hoạt động kinh doanh chưa biến mất hoàn toàn. Kết quả nghiên cứu bước đầu được Trường Đại học Y tế công cộng công bố tại hội thảo kỹ thuật ngày 29/9 cho thấy một phần đáng kể chuyển sang bán trực tuyến. Những thay đổi này gợi ra bức tranh hai mặt: mức độ sử dụng và quảng bá có dấu hiệu giảm, trong khi môi trường số vẫn là thách thức cần lưu tâm. Nghị quyết 173/2024/QH15 của Quốc hội quy định cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng từ năm 2025. Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thảo, đại diện nhóm nghiên cứu, hoạt động bán công khai tại các điểm bán được khảo sát đã giảm rõ rệt sau khi quy định có hiệu lực. Trong 126 cửa hàng từng kinh doanh các sản phẩm này, khoảng 64% đóng cửa, gần 35% chuyển sang bán trực tuyến, còn khoảng 1% tiếp tục bán cả trực tiếp lẫn trực tuyến. Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng cửa hàng đóng cửa không đồng nghĩa sản phẩm đã rời khỏi thị trường, bởi gần một phần ba số điểm bán chuyển sang kênh trực tuyến. Nghiên cứu cũng khảo sát 2.462 sinh viên từ 18 đến 24 tuổi tại các trường đại học ở Hà Nội, Đà Nẵng, Huế và TPHCM. Bên cạnh khảo sát sinh viên, nhóm quan sát 126 điểm bán lẻ và thực hiện 24 cuộc phỏng vấn sâu để tìm hiểu những thay đổi sau lệnh cấm. Trong số sinh viên tham gia khảo sát, 3,3% cho biết hiện sử dụng thuốc lá điện tử, còn 0,8% đang sử dụng thuốc lá nung nóng. Các tỷ lệ này thấp hơn những kết quả nghiên cứu trước đó về cùng nhóm đối tượng, dù chúng không cho thấy việc sử dụng đã chấm dứt. Tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử ở thanh thiếu niên và thanh niên từng được ghi nhận khoảng 7% năm 2020, tăng lên 13% năm 2021, rồi còn 9% năm 2023. Mức độ tiếp xúc với quảng cáo và khuyến mại cũng giảm so với các khảo sát trước, nhưng nhiều sinh viên vẫn gặp nội dung liên quan đến sản phẩm. Trong 30 ngày trước khảo sát, 38% sinh viên cho biết đã nhìn thấy quảng cáo thuốc lá điện tử hoặc thuốc lá nung nóng. Gần 33% từng nhận lời mời dùng thử hoặc nhận khuyến mại, trong khi mức phơi nhiễm quảng cáo được ghi nhận khoảng 73% năm 2020 và 67% năm 2024. Theo tiến sĩ Thảo, các kết quả là tín hiệu tích cực ban đầu sau khi quy định cấm có hiệu lực, song khả năng tiếp cận sản phẩm vẫn đáng quan tâm. Nghiên cứu theo dõi dữ liệu trực tuyến từ tháng 1/2024 đến tháng 2/2026 trên các nền tảng mạng xã hội, ghi nhận thay đổi trước và sau khi nghị quyết được ban hành, có hiệu lực. Số bài đăng liên quan và tỷ trọng nội dung quảng cáo, bán sản phẩm đều giảm, nhưng khảo sát sinh viên cho thấy môi trường trực tuyến vẫn là nguồn phơi nhiễm quan trọng. Các chuyên gia vì thế cho rằng giai đoạn tiếp theo cần chú trọng hơn đến việc kiểm soát thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng trên môi trường số. Chia sẻ kinh nghiệm Singapore, Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền, thuộc Tổ chức Chiến dịch Trẻ em Không thuốc lá tại Việt Nam, nhấn mạnh cách tiếp cận đồng bộ từ nguồn cung đến hoạt động trực tuyến. Tại Singapore, y tế, cảnh sát, hải quan, quốc phòng và các cơ quan quản lý phối hợp kiểm soát nhập khẩu, buôn lậu, mua bán, tàng trữ và sử dụng. Nước này cũng tăng cường kiểm soát tại cửa khẩu và trên nền tảng số, đồng thời phân mức xử phạt theo tính chất, mức độ vi phạm. Một số hành vi có thể bị xử lý hình sự, thay vì chỉ áp dụng chế tài hành chính, theo kinh nghiệm được bà Huyền chia sẻ. Bà đề xuất Việt Nam ưu tiên kiểm soát nguồn cung, thay vì chỉ tập trung vào người sử dụng hoặc từng điểm bán, nhằm ngăn sản phẩm tiếp tục được đưa ra thị trường.