Bỏ qua điều hướng
•

'Quản lý an toàn thực phẩm chuyển từ phạt sang chặn nguy cơ sớm'

'Quản lý an toàn thực phẩm chuyển từ phạt sang chặn nguy cơ sớm'
Nguồn ảnh: VnExpress

Bộ Y tế đề xuất đổi mới phương thức kiểm soát thực phẩm bằng cách chủ động chặn mầm họa ngay từ đầu nguồn thay vì đợi xảy ra vi phạm mới xử phạt.

Tại Hội nghị khoa học quốc tế Kiểm nghiệm thực phẩm 2026, hôm 15/10 tại Hà Nội, Thứ trưởng Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho hay an toàn thực phẩm không chỉ liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người dân mà còn ảnh hưởng đến niềm tin người tiêu dùng và năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

"Trong bối cảnh chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp, giao thương quốc tế mở rộng, các mối nguy truyền thống và mới nổi cùng tồn tại, phương thức quản lý cần thay đổi theo hướng chủ động, dựa trên đánh giá nguy cơ thay vì chủ yếu xử lý khi vi phạm hoặc sự cố đã xảy ra", Thứ trưởng nói.

Ông Tuyên cho biết cơ quan chức năng đang soạn thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi để trình Quốc hội. Điểm cốt lõi của dự luật nằm ở việc giám sát toàn bộ đường đi của thực phẩm, từ trang trại nuôi trồng, sơ chế, chế biến cho tới kệ hàng phân phối, thay vì kiểm tra rời rạc từng công đoạn như trước.

Dự thảo cũng đưa thuật ngữ "nguy cơ" vào quản lý theo cách tiếp cận của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế, giúp cơ quan chức năng ra quyết định dựa trên bằng chứng khoa học và mức độ ảnh hưởng sức khỏe.

Cách tính nguy cơ dựa trên hai yếu tố là khả năng xảy ra tác hại và mức độ nghiêm trọng của hậu quả mà mối nguy trong thực phẩm gây ra. Nhờ đó, cơ quan quản lý xác định được lĩnh vực cần ưu tiên giám sát, dồn nguồn lực vào đúng chỗ thay vì dàn đều cho mọi sản phẩm, cơ sở.

Dự luật lần đầu đưa khái niệm "nguy cơ" theo chuẩn mực quốc tế vào thực tế điều hành. Khái niệm này đo lường khả năng chất độc hại xuất hiện trong đồ ăn và mức độ tàn phá sức khỏe người dùng nếu lỡ nuốt phải. Khi xác định rõ mặt hàng nào đe dọa sức khỏe cộng đồng lớn nhất, lực lượng chức năng sẽ dồn quân số và ngân sách giám sát trọng điểm vào nhóm đó, chấm dứt tình trạng rải mỏng nguồn lực thanh tra dàn trải mọi cơ sở.

Tại châu Âu và Mỹ, cách tiếp cận này đã vận hành hiệu quả từ nhiều năm qua. Cơ quan An toàn Thực phẩm châu Âu (EFSA) từng xử lý bài toán nhiễm độc thủy ngân trong hải sản bằng phương pháp phân tích nguy cơ. Thủy ngân phá hủy hệ thần kinh nghiêm trọng, song mức độ ảnh hưởng lại tùy thuộc vào lượng cá mỗi người ăn hàng tuần. Kết hợp dữ liệu độc chất với khảo sát khẩu phần ăn, EFSA chỉ ra rủi ro tập trung chủ yếu ở phụ nữ mang thai ăn nhiều cá săn mồi như cá ngừ đại dương và cá kiếm. Nhờ kết luận này, nhà chức trách không cấm đoán tràn lan hay tốn công kiểm nghiệm mọi mẻ cá trên thị trường. Họ phát khuyến cáo tiêu thụ riêng cho nhóm người dễ tổn thương, đồng thời dồn lực lượng kiểm soát vào đúng các loài cá biển tầng trên.

Tương tự, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) áp dụng Đạo luật Hiện đại hóa An toàn Thực phẩm để chấm dứt tình trạng thanh tra cào bằng. Cơ quan này chia các cơ sở chế biến thành từng nhóm rủi ro khác nhau để phân bổ đoàn kiểm tra. Xưởng làm thịt nguội ăn liền, phô mai mềm hay rau mầm đóng gói – những món ăn ngay dễ nhiễm khuẩn tử vong cao như Listeria hay E. coli – bị xếp vào nhóm nguy cơ cao và chịu tần suất thanh tra dày đặc ba năm một lần.

Ngược lại, nhà máy sản xuất bánh quy, ngũ cốc khô gần như không có khả năng phát sinh mầm bệnh thì giãn thời gian kiểm tra đến năm năm một lần. Cách phân luồng rành mạch này giúp nhà chức trách tiết kiệm ngân sách, tập trung nhân lực chặn đứng các điểm nóng trước khi dịch bệnh bùng phát.

Người dân mua sắm thực phẩm tại siêu thị. Ảnh: Thanh Tùng

Người dân mua sắm thực phẩm tại siêu thị. Ảnh: Thanh Tùng

Dù vậy, công tác phòng ngừa từ gốc đang nghẽn ở khâu dữ liệu và nhân lực. Bộ Y tế đã mở đợt tổng rà soát dữ liệu trong 100 ngày nhằm gom thông tin về một mối, song các bộ ngành liên quan vẫn chưa thông suốt cổng chia sẻ.

PGS.TS Trần Cao Sơn, Phó viện trưởng Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia, cũng cho rằng dữ liệu giám sát hiện phân tán, thiếu liên thông. Việt Nam cũng chưa triển khai Nghiên cứu Tổng thể khẩu phần để thu thập dữ liệu chi tiết về mức tiêu thụ thực phẩm của người dân như một số nước trong khu vực. Khoảng trống này khiến việc đánh giá mức độ phơi nhiễm với các mối nguy gặp khó, trong khi đây lại là căn cứ quan trọng để xác định nguy cơ cho sức khỏe cộng đồng.

Nguồn lực cho lĩnh vực này cũng chưa theo kịp yêu cầu. Trung tâm Đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm (VFS), thành lập năm 2023, hiện chỉ có 6 người. Nhân lực và kinh phí đều thua xa khối lượng nhiệm vụ cũng như quy mô của các trung tâm tương đương trên thế giới.

Các chuyên gia cho rằng để chuyển từ quản lý phản ứng sang phòng ngừa chủ động, Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý, kết nối dữ liệu liên ngành, nâng năng lực kiểm nghiệm và đầu tư cho hoạt động đánh giá nguy cơ. Khi kết quả kiểm nghiệm gắn với dữ liệu giám sát, mức tiêu thụ thực phẩm và thông tin về tác động sức khỏe, cơ quan quản lý sẽ phát hiện sớm nhóm sản phẩm tiềm ẩn nguy cơ, khoanh vùng trọng tâm thanh tra và dùng nguồn lực hiệu quả hơn.

Lê Nga

Tại Hội nghị khoa học quốc tế Kiểm nghiệm thực phẩm 2026 diễn ra ngày 15/10 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho biết cơ quan chức năng đang soạn thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi nhằm chuyển đổi căn bản phương thức quản lý. Thay vì thụ động xử lý vi phạm khi sự cố phát sinh, dự luật hướng tới việc kiểm soát toàn diện chuỗi cung ứng từ trang trại đến kệ hàng phân phối. Đây là bước đi cần thiết nhằm củng cố niềm tin của người tiêu dùng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam. Điểm đổi mới cốt lõi của dự thảo là áp dụng thuật ngữ nguy cơ theo tiêu chuẩn quốc tế để ra quyết định dựa trên bằng chứng khoa học cụ thể. Chỉ số này được tính toán dựa trên khả năng xảy ra tác hại kết hợp cùng mức độ nghiêm trọng của hậu quả sức khỏe. Việc phân loại chính xác mức độ đe dọa giúp các lực lượng chức năng tập trung tối đa ngân sách và nhân sự vào các lĩnh vực trọng điểm, chấm dứt hoàn toàn tình trạng thanh tra dàn trải kém hiệu quả. Mô hình quản lý dựa trên đánh giá rủi ro thực tế đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội tại nhiều nền kinh tế phát triển như Mỹ và Liên minh châu Âu. Cơ quan An toàn Thực phẩm châu Âu từng áp dụng phương pháp phân tích này để khoanh vùng nguy cơ nhiễm độc thủy ngân trong hải sản, từ đó ban hành khuyến cáo đích danh cho nhóm phụ nữ mang thai thay vì kiểm nghiệm tràn lan. Tương tự, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ cũng phân tầng nguy cơ các cơ sở sản xuất để áp đặt tần suất thanh tra nghiêm ngặt đối với nhóm thực phẩm ăn liền dễ lây nhiễm vi khuẩn độc hại.
amung