Tại hội thảo Ung thư vú - Hiểu đúng để yêu thương do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức hôm 23/10, TS.BS Nguyễn Thị Hòa, Phó trưởng khoa Nội vú - Phụ khoa 2 (Nội 6), Bệnh viện K, dẫn số liệu GLOBOCAN 2024 cho thấy ung thư vú là bệnh ung thư có số ca mắc mới cao nhất tại Việt Nam.
Số liệu GLOBOCAN 2024 do Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) công bố hồi tháng 7, Việt Nam ghi nhận 177.404 ca ung thư mắc mới và 111.015 ca tử vong do ung thư. Trong đó, ung thư vú đứng đầu về số ca mắc mới, trước ung thư phổi và đại trực tràng. Đồng thời, căn bệnh nằm trong nhóm 4 nguyên nhân tử vong do ung thư hàng đầu, sau ung thư phổi, đại trực tràng và gan. Thứ hạng này không thay đổi so với GLOBOCAN 2022.
Khoảng 50% bệnh nhân ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn III và IV, theo một nghiên cứu đăng trên tạp chí Cancer Control. Phát hiện muộn khiến việc điều trị phức tạp hơn, cho thấy tầm quan trọng của việc nhận biết dấu hiệu bất thường và thăm khám kịp thời.
TS.BS Nguyễn Thị Hòa chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: Bảo Ngọc
TS Hòa cho biết ung thư vú có khả năng điều trị khỏi cao, đặc biệt khi được phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ. Tuy nhiên, nguy cơ tái phát vẫn tồn tại, tùy thuộc vào giai đoạn bệnh và đặc điểm từng người. Vì vậy, bệnh nhân cần duy trì lịch tái khám theo hướng dẫn của bác sĩ, kể cả sau 5 năm điều trị, bởi một số trường hợpVới hơn 25.700 ca mắc mới, có thể tái phát muộn.
Bác sĩ cũng cảnh báo tình trạng người bệnh trì hoãn điều trị tại bệnh viện để đắp lá, dùng thuốc truyền miệng hoặc làm theo những lời khuyên thiếu căn cứ lan truyền trên mạng xã hội. Bà thường tiếp nhận những bệnh nhân trong tình trạng khối u lớn, vỡ loét, chảy máu và đau đớn do không điều trị đúng cách.
Theo TS Hòa, điều trị ung thư vú thường cần phối hợp nhiều phương pháp như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, điều trị nội tiết và các liệu pháp khác tùy đặc điểm bệnh. Sau phẫu thuật, một số bệnh nhân cần điều trị bổ trợ để tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại và giảm nguy cơ tái phát.
Phác đồ phải được cá thể hóa dựa trên giai đoạn bệnh, đặc điểm sinh học của khối u, sức khỏe, nguyện vọng sinh sản và điều kiện kinh tế. Với một số nhóm bệnh, điều trị nội tiết có thể kéo dài 5-10 năm. Khi gặp tác dụng phụ, khó khăn tâm lý hoặc tài chính, người bệnh nên trao đổi với nhân viên y tế thay vì tự ý ngừng điều trị.
Một bệnh nhân tầm soát ung thư vú. Ảnh: Diệu Hiền
PGS.TS Phạm Thanh Bình, Phó chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Nâng cao Sức khỏe Việt Nam, nhận định lượng thông tin lớn trên Internet, mạng xã hội và các công cụ trí tuệ nhân tạo khiến người dân khó phân biệt kiến thức chính xác với nội dung sai lệch hoặc thiếu căn cứ.
Theo bà, truyền thông sức khỏe cần dựa trên bằng chứng khoa học, được thẩm định chuyên môn và trình bày bằng ngôn ngữ dễ hiểu. Người dân cần được hướng dẫn nhận biết dấu hiệu bất thường, tiếp cận dịch vụ y tế phù hợp với độ tuổi và nguy cơ, tránh tự chẩn đoán hoặc tự điều trị.
Các chuyên gia khuyến cáo bên cạnh tiến bộ về thuốc và kỹ thuật, phát hiện sớm, tuân thủ phác đồ và tiếp cận thông tin chính xác là những yếu tố quan trọng trong kiểm soát ung thư vú. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường hoặc gặp khó khăn trong điều trị, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được tư vấn, không tự ý trì hoãn hoặc thay thế phương pháp điều trị đã được chỉ định.
Lê Nga