Bỏ qua điều hướng

Bị ung thư đại tràng dùng thuốc trúng đích được không?

Bị ung thư đại tràng dùng thuốc trúng đích được không?
Nguồn ảnh: VnExpress

Cậu tôi mắc ung thư đại tràng, trước đó hai năm đã phẫu thuật ung thư tuyến giáp. Người bệnh ung thư đại tràng có điều trị thuốc trúng đích được không? (Mộc Lan, TP HCM)

Trả lời

Thuốc trúng đích hay liệu pháp điều trị đích là nhóm thuốc tác động vào các phân tử hoặc đường truyền tín hiệu giúp tế bào ung thư phát triển, tạo mạch máu và lan rộng.

Khác với hóa trị tác động lên nhiều tế bào phân chia nhanh, thuốc trúng đích can thiệp vào một số đặc điểm cụ thể của khối u. Trong ung thư đại tràng, phương pháp này thường được áp dụng khi bệnh ở giai đoạn tiến xa, không còn khả năng phẫu thuật triệt căn hoặc đã di căn.

Bác sĩ lựa chọn thuốc dựa trên giai đoạn bệnh, vị trí khối u, kết quả xét nghiệm gene, các phương pháp đã điều trị, chức năng gan thận, bệnh lý đi kèm và thể trạng của người bệnh. Tùy tình trạng người bệnh, thuốc trúng đích có thể được phối hợp với hóa trị hoặc sử dụng trong phác đồ riêng. Thuốc không được chỉ định cho trường hợp mới chẩn đoán ung thư đại tràng.

Bác sĩ thường chỉ định xét nghiệm dấu ấn sinh học như RAS, BRAF, HER2... trước khi lựa chọn thuốc, tránh dùng các loại thuốc ít hiệu quả. Một số trường hợp có thể được xét nghiệm thêm các biến đổi gene hiếm gặp khác.

Bác sĩ Phúc tư vấn cho người bệnh. Ảnh minh họa: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Bác sĩ Phúc tư vấn cho người bệnh. Ảnh minh họa: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Ví dụ, thuốc ức chế EGFR thường chỉ được cân nhắc khi khối u không mang đột biến RAS. Người bệnh có đột biến BRAF V600E hoặc khuếch đại HER2 có thể phù hợp với các phác đồ nhắm trúng đích tương ứng.

Thuốc trúng đích trong ung thư đại tràng có thể được truyền tĩnh mạch hoặc dùng đường uống. Đa số các thuốc trúng đích điều trị ung thư đại tràng là kháng thể đơn dòng, được truyền tĩnh mạch. Một số thuốc phân tử nhỏ được sử dụng dưới dạng viên uống hằng ngày hoặc theo từng đợt điều trị.

Phương pháp này ít tác dụng phụ hơn hóa trị, tuy nhiên cần kiểm soát kỹ. Người bệnh có thể gặp phát ban, khô da, viêm quanh móng, tiêu chảy, buồn nôn, mệt mỏi, tăng huyết áp, viêm niêm mạc miệng, rối loạn chức năng gan hoặc phản ứng khi truyền thuốc.

Trong quá trình điều trị, người bệnh cần được theo dõi định kỳ để đánh giá đáp ứng. Bác sĩ có thể giảm liều, tạm ngừng hoặc thay đổi thuốc nếu bệnh tiến triển hoặc xuất hiện độc tính đáng kể. Không nên tự ý giảm liều, ngừng thuốc hoặc sử dụng thêm thuốc, thực phẩm bổ sung khi chưa trao đổi với bác sĩ. Người bệnh cần liên hệ cơ sở điều trị nếu xuất hiện sốt, khó thở, đau ngực, đau bụng dữ dội, tiêu chảy kéo dài, chảy máu bất thường hoặc phát ban lan rộng.

Bạn nên đưa cậu đến bệnh viện có chuyên khoa Ung bướu để bác sĩ kiểm tra, đánh giá tình trạng cụ thể và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp.

ThS.BS.CKI Ngô Tuấn Phúc
Khoa Nội Ung Bướu, Trung tâm Ung Bướu
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM

Độc giả đặt câu hỏi về bệnh ung thư tại đây để bác sĩ giải đáp
Liệu pháp điều trị trúng đích trong y khoa là phương pháp can thiệp trực tiếp vào các phân tử hoặc đường truyền tín hiệu giúp tế bào ung thư phát triển, tạo mạch máu và lan rộng. Đối với ung thư đại tràng, chỉ định này thường được áp dụng khi bệnh ở giai đoạn tiến xa, đã di căn hoặc không còn khả năng phẫu thuật triệt căn, chứ không dành cho các trường hợp mới chẩn đoán. Theo ThS.BS.CKI Ngô Tuấn Phúc từ Trung tâm Ung Bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, việc lựa chọn thuốc đòi hỏi đánh giá toàn diện thể trạng, giai đoạn bệnh và các phản ứng sinh học của từng cá nhân. Trước khi thiết lập phác đồ, các bác sĩ bắt buộc phải tiến hành xét nghiệm dấu ấn sinh học như RAS, BRAF hoặc HER2 nhằm đảm bảo tối đa hiệu quả lâm sàng. Đơn cử, thuốc ức chế EGFR chỉ được cân nhắc nếu khối u không mang đột biến RAS, trong khi đột biến BRAF V600E hay khuếch đại HER2 sẽ cần những phác đồ chuyên biệt tương ứng. Thuốc trúng đích có thể được chỉ định dưới dạng truyền tĩnh mạch đối với kháng thể đơn dòng hoặc viên uống hằng ngày đối với các phân tử nhỏ, phối hợp cùng hóa trị hoặc dùng độc lập. Mặc dù liệu pháp này thường ghi nhận ít tác dụng phụ hơn so với hóa trị truyền thống, người bệnh vẫn cần được giám sát chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị. Một số biểu hiện bất lợi có thể xuất hiện bao gồm phát ban, tiêu chảy, mệt mỏi, tăng huyết áp hay rối loạn chức năng gan, đòi hỏi bác sĩ phải chủ động điều chỉnh liều lượng hoặc tạm dừng thuốc khi cần. Bệnh nhân tuyệt đối không tự ý ngừng thuốc, thay đổi liều dùng hoặc sử dụng thêm các loại thực phẩm bổ sung khi chưa có sự cho phép từ y bác sĩ chuyên khoa. Trường hợp xuất hiện các triệu chứng nguy hiểm như sốt cao, đau ngực, đau bụng dữ dội hoặc chảy máu bất thường, người bệnh phải ngay lập tức liên hệ với cơ sở y tế. Việc đưa người nhà đến thăm khám trực tiếp tại các bệnh viện có chuyên khoa Ung bướu là yếu tố quyết định để xác định chính xác phương án can thiệp tối ưu.