Bỏ qua điều hướng

Vì sao cần xạ trị tiền phẫu?

Vì sao cần xạ trị tiền phẫu?
Nguồn ảnh: VnExpress

Xạ trị trước phẫu thuật được chỉ định nhằm tăng khả năng loại bỏ hoàn toàn khối u, tạo cơ hội bảo tồn, giảm khả năng tái phát bệnh sau điều trị.

Xạ trị tiền phẫu hay xạ trị trước phẫu thuật là phương pháp sử dụng tia bức xạ với liều được tính toán chính xác nhằm tiêu diệt tế bào ung thư trước khi phẫu thuật.

ThS.BS Vương Ngọc Dương, Phó khoa Xạ trị, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, cho biết trong điều trị ung thư, phẫu thuật là phương pháp cơ bản và triệt để nhằm loại bỏ khối u. Tuy nhiên, không phải người bệnh nào cũng được phẫu thuật ngay sau khi chẩn đoán. Một số trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định phối hợp hóa chất, xạ trị trước nhằm kiểm soát khối u và các tế bào ung thư xung quanh, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc mổ.

Quyết định xạ trị tiền phẫu được cá thể hóa dựa trên loại ung thư, giai đoạn bệnh, vị trí và mức độ xâm lấn của khối u, nguy cơ tái phát, khả năng phẫu thuật cũng như sức khỏe tổng thể của người bệnh. Tùy loại ung thư, xạ trị tiền phẫu có thể được thực hiện đơn thuần hoặc phối hợp với hóa trị, thuốc điều trị đích hay miễn dịch.

Bác sĩ chuẩn bị xạ trị tiền phẫu cho bệnh nhân ung thư. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Bác sĩ chuẩn bị xạ trị tiền phẫu cho bệnh nhân ung thư. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Bác sĩ Dương cho biết xạ trị tiền phẫu thuật có thể mang lại một số lợi ích sau:

Kiểm soát khối u trước phẫu thuật: Tia xạ có thể tiêu diệt tế bào ung thư tại khối u và hạch vùng xung quanh, giúp giảm kích thước khối u hoặc giảm mức độ xâm lấn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phẫu thuật.

Tăng khả năng loại bỏ hoàn toàn khối u: Với những khối u nằm sát hoặc xâm lấn các mô lân cận, xạ trị trước mổ có thể hỗ trợ bác sĩ loại bỏ toàn bộ tổn thương trong phạm vi an toàn.

Giảm nguy cơ ung thư tái phát tại chỗ: Bác sĩ điều trị thường cân nhắc phương pháp xạ trị tiền phẫu khi người bệnh thuộc nhóm có nguy cơ bệnh tái phát tại chỗ cao.

Ngoài phần khối u nhìn thấy trên hình ảnh, các tế bào ung thư rất nhỏ xung quanh (dạng vi thể) có thể tồn tại mà các phương tiện chẩn đoán hình ảnh chưa phát hiện được. Lúc này, xạ trị trước mổ góp phần kiểm soát các tế bào này, từ đó giảm tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật.

Tạo cơ hội phẫu thuật bảo tồn: Trong một số trường hợp, kiểm soát khối u trước phẫu thuật có thể giúp giảm phạm vi phẫu thuật, từ đó tăng khả năng bảo tồn cơ quan hoặc chức năng.

Khi được chỉ định xạ trị tiền phẫu, thời điểm xạ trị và phẫu thuật đã được tính toán trong toàn bộ kế hoạch điều trị. Người bệnh sẽ được theo dõi đáp ứng cũng như tình trạng sức khỏe để lựa chọn thời điểm phẫu thuật phù hợp.

Theo thạc sĩ Dương, mục tiêu của điều trị trước mổ không phải trì hoãn phẫu thuật mà lựa chọn trình tự điều trị phù hợp để kiểm soát ung thư tốt nhất. Bác sĩ có thể đánh giá đáp ứng sau xạ trị bằng khám và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh trước khi quyết định bước tiếp theo.

Hiếu Nguyễn

Độc giả gửi câu hỏi về bệnh ung thư tại đây để bác sĩ giải đáp
Xạ trị tiền phẫu là phương pháp sử dụng tia bức xạ được tính toán chính xác để tiêu diệt tế bào ung thư trước khi tiến hành phẫu thuật. Theo ThS.BS Vương Ngọc Dương, Phó khoa Xạ trị thuộc Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, chỉ định này giúp thu nhỏ kích thước khối u và kiểm soát các tổn thương lân cận nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ca mổ. Quyết định can thiệp được cá thể hóa dựa trên loại ung thư, giai đoạn bệnh, nguy cơ tái phát cũng như thể trạng tổng quát của từng người bệnh. Phương pháp này giúp tiêu diệt tế bào ung thư tại chỗ và loại bỏ các vi thể mà phương tiện chẩn đoán hình ảnh chưa phát hiện được. Nhờ đó, phẫu thuật viên có thể loại bỏ toàn bộ tổn thương trong phạm vi an toàn, giảm thiểu nguy cơ tái phát sau điều trị. Đáng chú ý, việc thu nhỏ phạm vi xâm lấn u còn tăng khả năng phẫu thuật bảo tồn cơ quan và chức năng cho người bệnh. Việc thực hiện xạ trị đơn thuần hoặc phối hợp hóa trị, thuốc điều trị đích hay miễn dịch được tính toán chặt chẽ trong toàn bộ kế hoạch điều trị. Bác sĩ sẽ theo dõi đáp ứng qua thăm khám và chẩn đoán hình ảnh để lựa chọn thời điểm phẫu thuật phù hợp nhất mà không làm trì hoãn tiến trình điều trị. Mục tiêu cốt lõi của quy trình này là sắp xếp trình tự can thiệp tối ưu, kiểm soát triệt để ung thư và gia tăng cơ hội phục hồi cho bệnh nhân.