"Bác sĩ đứng yên đấy", bệnh nhân quát.
Nguyễn Trọng Quân, khi đó là bác sĩ nội trú năm đầu, ghì chặt cánh cửa sắt bằng cả thân người, chặn đường vào khu bệnh nhân bên trong, tay còn lại ra hiệu cho các đồng nghiệp nữ lùi xa. Anh bấm sẵn số báo động đỏ. Vài phút sau, người bệnh đổi hướng, quay sang đuổi chính bố đẻ mình chạy vòng quanh viện. Đêm đó không ai bị thương.
Chuyện xảy ra cách đây 5 năm. Quân hiện giảng dạy tại Bộ môn Tâm thần và Tâm lý học lâm sàng, trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, kiêm bác sĩ khoa Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện E. Anh kể lại những đêm như vậy chỉ là thiểu số, luôn rơi vào nhóm bệnh nhân giai đoạn cấp tính, chưa kịp điều trị.
Bệnh án 'dài như tiểu thuyết' phía sau 14 tiếng mỗi ngày của bác sĩ nội trú tâm thần
Bác sĩ Quân hô to chuyên ngành Tâm thần trong Match Day năm 2021 của Đại học Y Hà Nội. Video: Nhân vật cung cấp
Trong thời gian đào tạo nội trú, bác sĩ Dương Khánh Duy, hiện công tác tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cũng không ít lần gặp bệnh nhân bị kích động, rối loạn hành vi và có nguy cơ tấn công nhân viên y tế cùng người bệnh khác. Có những bệnh nhân chạy ra ngoài trong trạng thái mất kiểm soát khiến y bác sĩ phải rượt đuổi khắp bệnh viện để khống chế an toàn và đưa trở lại phòng.
Sự dấn thân của những bác sĩ trẻ như Quân, Duy diễn ra trong bối cảnh hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam đang thiếu hụt nhân viên y tế nghiêm trọng. Thống kê năm 2023 của Bộ Y tế ghi nhận Việt Nam có khoảng 15 triệu người gặp các rối loạn tâm thần, trải rộng từ mất ngủ mạn tính, rối loạn lo âu đến trầm cảm nặng. Dù vậy, chỉ 29% trong số đó và 1/3 bệnh nhân trầm cảm nhận được sự chăm sóc y tế chính thức.
Cả nước hiện có hơn 1.000 bác sĩ tâm thần. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, Viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần thuộc Bệnh viện Bạch Mai kiêm Trưởng bộ môn Tâm thần trường Đại học Y Hà Nội, mật độ nhân lực chuyên khoa đạt gần một bác sĩ trên một vạn dân, thấp hơn 8 lần so với mức chuẩn tại các quốc gia phát triển.
Khoảng trống nhân lực khó thu hẹp khi chuyên ngành này liên tục đứng ngoài danh sách ưu tiên của các bác sĩ trẻ xuất sắc. Tại sự kiện chọn ngành Match Day ngày 9/9 của Đại học Y Hà Nội, nhóm 20 thủ khoa có thứ hạng điểm thi cao nhất lần lượt chọn Sản phụ khoa, Phẫu thuật tạo hình, Nội tim mạch, Gây mê hồi sức, Y khoa và Da liễu. Danh sách lựa chọn không có tên ngành Tâm thần.
Đại tá, TS.BS Đỗ Xuân Tĩnh, Chủ nhiệm Bộ môn Tâm thần tại Bệnh viện Quân y 103 thuộc Học viện Quân y, chỉ ra rằng nhu cầu điều trị stress và các rối loạn tâm lý trong xã hội hiện tăng nhanh, song bộ môn của ông trống bác sĩ nội trú hai năm qua. Lực lượng bác sĩ tâm thần trong quân đội tập trung ở vài cơ sở lớn như Bệnh viện Quân y 103 và 175. Nhiều đơn vị khác thiếu người, phải để bác sĩ chuyên khoa thần kinh kiêm nhiệm việc khám tâm thần, dù hai chuyên khoa này xử lý những nhóm bệnh khác hẳn nhau.
Quân hiểu vì sao nhiều người không lựa chọn ngành này. "Rào cản lớn nhất vẫn là chữ tâm thần", anh nói. Khi anh quyết định theo ngành từ năm thứ 5 đại học, gia đình phản đối gay gắt. Bố Quân đi hỏi khắp nơi, gặp người này người kia, rồi mới quay về ủng hộ con.
Công việc phía sau cánh cửa đó khác xa hình dung của số đông. Bác sĩ tâm thần không chụp chiếu ra bệnh. Không có xét nghiệm nào trả về kết quả trầm cảm. Công cụ chẩn đoán duy nhất là lời kể, và bác sĩ phải "moi" nó ra từ tận gốc như người mẹ mang thai thế nào, ca sinh ra sao, đứa trẻ lớn lên trong gia đình nào, học hành thế nào, gặp biến cố gì thời niên thiếu, cưới ai, sinh mấy con, làm nghề gì, từng uống thuốc gì.
Kết quả là thứ mà Quân gọi là "đặc sản" của nội trú tâm thần: những bệnh án dài như tiểu thuyết. Hồ sơ thông thường 12 trang. Bệnh án hội chẩn chuyên sâu 20 đến 30 trang. Mỗi trang là một mảnh đời được ghép lại để tránh một chẩn đoán nhầm.
Thạc sĩ, bác sĩ nội trú tâm thần Nguyễn Trọng Quân. Ảnh: Bình Minh
Rủi ro thể chất chồng lên khối lượng giấy tờ ấy. Một lần, đang giải thích phác đồ cho nữ bệnh nhân, Quân lãnh nguyên cú đấm vào mặt. Cô gái từng học võ. Anh mô tả đó là "sang chấn cả thể chất lẫn tinh thần". Bị đấm hay bị dí dao thì hiếm, anh nói, nhưng bị chửi bới, dọa kiện, dọa giết thì "nhiều như cơm bữa".
Bác sĩ Duy kể những ca bệnh nhân tự làm đau bản thân hoặc có ý định tự sát. Khống chế một người đang muốn chết là việc dùng sức, và y bác sĩ hứng đủ vết cào cấu. "Đó là đặc trưng của bác sĩ tâm thần", Duy nói.
Với một bác sĩ nội trú, hơn một năm đầu, ngày làm việc của họ bắt đầu lúc 6h và kết thúc sau 22h30, kể cả cuối tuần. Những năm sau rút xuống khoảng 12 tiếng để còn làm luận văn. Tính cả chặng, một người mất khoảng 10 năm mới khám bệnh độc lập: 6 năm đại học, 3 năm nội trú, tối thiểu một năm thực hành.
Động lực níu giữ các bác sĩ ở lại với chuyên ngành nằm ở kết quả phục hồi của những số phận từng bên bờ vực. Như Thanh Mai, 27 tuổi, một bệnh nhân của bác sĩ Quân, từng bế tắc vì stress gây lo âu trầm cảm từ tháng 9 năm ngoái. Do công việc bận rộn và hay quên, cô không uống thuốc đầy đủ khiến bệnh nặng hơn. "Tôi chán mọi thứ, nhìn đâu cũng tiêu cực, không muốn làm gì hết nhưng lại sợ một mình", cô nhớ lại.
Nhờ sự điều trị tận tình và giải đáp thắc mắc từ bác sĩ Quân, Mai kiên trì thay đổi lối sống, tập thể dục, tập yoga hít thở và áp dụng bài tập tập trung vào 5 giác quan mỗi khi lên cơn lo âu. Tình trạng cải thiện rõ rệt giúp cô giảm liều dần, đến tháng 4 năm nay đã hoàn toàn không còn phải dùng thuốc.
Sự phục hồi của những bệnh nhân như Mai hay ca bệnh tâm thần phân liệt vẫn duy trì cuộc sống ổn định tại nước ngoài mà Quân gặp từ thời sinh viên năm thứ 5 chính là động lực giữ chân các bác sĩ trẻ.
"Tôi nhận ra đó là những tổn thương hoàn toàn có thể kiểm soát và người bệnh vẫn có quyền, có khả năng sống một cuộc đời trọn vẹn. Càng dấn sâu vào học hỏi, tôi càng nhận ra chuyên ngành này không hề mang màu sắc u ám hay đáng sợ", bác sĩ Quân nói.
Thạc sĩ, bác sĩ Dương Khánh Duy. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Bình Minh