Bỏ qua điều hướng

Thêm cơ hội cho người bệnh viêm khớp dạng thấp

Thêm cơ hội cho người bệnh viêm khớp dạng thấp
Nguồn ảnh: VietnamNet

Viêm khớp dạng thấp kéo dài không chỉ gây đau đớn mà còn làm suy giảm khả năng vận động nghiêm trọng. Sự xuất hiện của các liệu pháp sinh học thế hệ mới cùng dữ liệu đời thực phong phú đang góp phần giải bài toán khoảng trống điều trị .

Viêm khớp dạng thấp không chỉ đơn thuần là tình trạng đau hoặc sưng các khớp. Đây là bệnh tự miễn mạn tính, trong đó phản ứng viêm kéo dài có thể gây tổn thương cấu trúc khớp, suy giảm khả năng vận động và làm gia tăng nguy cơ tàn phế.

Đây chính là “khoảng trống điều trị” được các chuyên gia tập trung thảo luận tại hội thảo “Kỷ nguyên ức chế trực tiếp IL-6 trong điều trị viêm khớp dạng thấp: Từ nhu cầu điều trị chưa được đáp ứng đến thực hành lâm sàng”, do Hội Thấp khớp học Việt Nam (VRA) phối hợp cùng Công ty Cổ phần R-Pharm tổ chức tại khách sạn Le Méridien Saigon.

Trong hội thảo, GS.TS Kunihiro Yamaoka (Đại học Y khoa Kitasato, Nhật Bản) nhấn mạnh việc phối hợp giữa cập nhật y khoa thế giới và đánh giá ca bệnh cụ thể chính là chìa khóa mở đường cho chiến lược cá thể hóa, giúp người bệnh giảm thiểu nguy cơ tàn phế và nâng cao chất lượng cuộc sống lâu dài. 

TS.BS Phạm Văn Tú, Chuyên khoa II, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cũng trình bày ghi nhận sự cải thiện tích cực ở một bệnh nhân mắc bệnh nặng. Trường hợp này cho thấy tính khả thi của việc chuyển hóa các bằng chứng từ nghiên cứu lâm sàng vào thực hành điều trị tại bệnh viện.

Anh 1.jpg
Các chuyên gia đang thảo luận về dữ liệu thực tế liên quan đến bệnh viêm khớp dạng thấp. Ảnh: R-Pharm

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lan - PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lan, Chủ tịch Hội Thấp khớp học Việt Nam, Interleukin-6 (IL-6) được xác định là một trong những cytokine tiền viêm tham gia vào quá trình viêm tại khớp và các biểu hiện toàn thân của viêm khớp dạng thấp.

Olokizumab được R-Pharm nghiên cứu và phát triển, có tác dụng ức chế trực tiếp phối tử (ligand) IL-6, thay vì tác động vào thụ thể (receptor) IL-6. Việc có thêm một liệu pháp với cơ chế tác động khác biệt hứa hẹn mang đến thêm lựa chọn cho bác sĩ trong quá trình cá thể hóa điều trị, đặc biệt với những bệnh nhân chưa đạt đáp ứng đầy đủ với các điều trị trước đó.

PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lan cho rằng sự có mặt của liệu pháp ức chế trực tiếp IL-6, cùng với bằng chứng lâm sàng và dữ liệu đời thực, góp phần mở rộng thêm chọn lựa điều trị cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tại Việt Nam.

Anh 2.jpg
Trang thiết bị y tế tại R-Pharm. Ảnh: R-Pharm

Trong điều trị viêm khớp dạng thấp, không có một chiến lược duy nhất phù hợp cho mọi bệnh nhân. Việc mở rộng các lựa chọn điều trị, đánh giá đáp ứng và điều chỉnh phác đồ phù hợp cho từng trường hợp sẽ là yếu tố quan trọng để từng bước thu hẹp khoảng trống điều trị và hướng tới mục tiêu kiểm soát bệnh bền vững.

(Nguồn: Công ty Cổ phần R-Pharm)

Viêm khớp dạng thấp là bệnh tự miễn mạn tính, không chỉ gây đau, sưng khớp mà còn có thể phá hủy cấu trúc khớp, làm suy giảm vận động và gia tăng nguy cơ tàn phế. Khoảng trống điều trị xuất hiện khi người bệnh chưa đạt đáp ứng đầy đủ, buộc bác sĩ phải liên tục đánh giá hiệu quả và điều chỉnh phác đồ theo diễn biến thực tế. Tại hội thảo “Kỷ nguyên ức chế trực tiếp IL-6 trong điều trị viêm khớp dạng thấp: Từ nhu cầu điều trị chưa được đáp ứng đến thực hành lâm sàng”, các chuyên gia tập trung phân tích khả năng thu hẹp khoảng trống này bằng những lựa chọn mới. Sự kiện do Hội Thấp khớp học Việt Nam phối hợp với Công ty Cổ phần R-Pharm tổ chức tại khách sạn Le Méridien Saigon. GS.TS Kunihiro Yamaoka, Đại học Y khoa Kitasato, Nhật Bản, nhấn mạnh việc kết hợp cập nhật y khoa thế giới với đánh giá từng ca bệnh là nền tảng của chiến lược cá thể hóa, qua đó giảm nguy cơ tàn phế và cải thiện chất lượng sống lâu dài. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lan, Chủ tịch Hội Thấp khớp học Việt Nam, Interleukin-6, viết tắt là IL-6, là một cytokine tiền viêm liên quan đến cả tổn thương tại khớp và các biểu hiện toàn thân của bệnh. Olokizumab do R-Pharm nghiên cứu và phát triển có cơ chế ức chế trực tiếp phối tử IL-6, thay vì tác động lên thụ thể IL-6. Cơ chế khác biệt này có thể bổ sung lựa chọn cho quá trình cá thể hóa điều trị, nhất là ở những bệnh nhân chưa đáp ứng đầy đủ với các liệu pháp trước đó.